22:12 ICT Thứ hai, 26/09/2022

Giới Thiệu

Thiền sư Liễu Quán

Nhằm tăng cường lòng tin Pháp-môn, chúng tôi giới thiệu cùng các bạn Thiền-sư Liễu Quán (1667 - 1743), đời Pháp thứ 35 tông Lâm Tế, một người Việt Nam tham thiền đạt ngộ. Tư liệu này được trích trong sách "Lịch sử Phật giáo Đàng Trong VN" của Nguyễn Hiền Đức.          ...

Danh mục chính

Liên Kết Trang

TS DUC SON
TS NGUYET KHE
HUE NANG

Trang nhất » Tông Phong Tàng Thư » Luận, Giảng » Triệu Luận

Triệu Luận - phần IV

Thứ bảy - 30/03/2013 04:45 Xem: 849
thư hỏi đáp với Lưu Di Dân
THƯ CỦA LƯU DI DÂN

(Ngài Huệ Viễn, Sơ-tổ của Tịnh-độ Tông, sau khi đọc bài Bát-nhã Vô Tri Luận, có tán thán rằng : "Xưa nay chưa từng có". Nhưng cảm thấy trong Luận còn nhiều điều thắc mắc chưa thông, nên có sai Cư-sĩ Lưu Di Dân là vị đệ tử thượng thủ viết thư gởi cho Ngài Tăng Triệu để tham vấn đồng thời cũng có ý vấn nạn).

Chánh-lý tinh vi thì lời văn kỳ hiểm, âm điệu quá cao thì người xướng họa rất ít, nếu chẳng phải hạng người siêu việt ngôn ngữ, quên lời được ý thì sẽ chấp vào lời nói mà trái ngược với Chánh-lý.

Lời đáp trong bài Luận Bát-nhã Vô Tri, về đoạn lấy duyên để tìm Trí, ý nghĩa tỏ ra thật uyển chuyển cùng tột, cực kỳ tinh xảo, chẳng có kẽ hở. Nhưng kẻ chưa thấu lý thì khó mà hiểu được, nay còn có một hai chỗ chưa hiểu rõ, xin kể ra trong thư viết riêng kèm theo đây, nếu Ngài được rảnh rỗi thì giải thích cho.

Trong Luận nói : "Thể tánh của Bát-nhã phi hữu phi vô, hư chẳng lìa chiếu, chiếu chẳng lìa hư, nên nói chẳng động đẳng giác mà kiến lập các pháp".

Đoạn sau có nói : "Khác với phàm phu là bởi tâm thần diệu linh minh, nên chẳng thể theo sự tướng để tìm cầu mà thôi". Lại còn nói : "Dụng tức là tịch, tịch tức là dụng, Quyền-trí càng vắng lặng thì sự ứng cơ càng linh động".

Chân-tâm của bậc Thánh tịch diệt, Thật-trí chứng lý cùng tột đồng với trống rỗng. Quyền-trí ứng cơ chẳng mau mà mau, chẳng chậm mà chậm, cho nên tri chẳng lìa tịch, tịch chẳng lìa tri; chưa phải là chẳng tịch, chưa phải là chẳng tri. Cho nên, Đạo ứng cơ hóa độ được thành công trên thế gian, dù ở trong hữu danh (Quyền-trí ứng cơ hóa độ) mà lại đồng với vô danh (Thật-trí chứng lý tịch diệt), đó là sự nhiệm mầu của Chánh-lý mà kẻ phàm lại càng cảm thấy mê muội !

Nhưng nay người bình phẩm có chỗ nghi đối với ý chỉ cao siêu của bài Luận, muốn tìm sự khác biệt của Thánh-trí (Quyền-trí và Thật-trí), cho là Thật-trí linh minh cùng tột, siêu việt số lượng, cực kỳ vi diệu, âm thầm phù hợp nhất thể với Trung-đạo ư ? Hoặc cho là Quyền-trí tâm thể tự nhiên, linh minh trống rỗng, vô tướng độc tồn ư ?

Nếu nói linh minh cùng tột, siêu việt số lượng, cực kỳ vi diệu, âm thầm phù hợp nhất thể với Trung-đạo thì hai tên gọi "Tịch" và "Chiếu" là thể của định và huệ mà thôi. Định và Huệ đã là hai thì tịch và chiếu cũng là hai; dụng đã là hai thì thể cũng là hai, đâu có thể nói tâm và cảnh hợp thành một ? Vậy thì hai tên gọi chẳng nên cho là nhất thể.

Nếu nói Tâm-thể tự nhiên, linh minh trống rỗng, vô tướng độc tồn, tức là Quyền-trí càng vắng lặng thì đã trở về một mà tiêu diệt dấu tích, có cái thể mà chẳng có cái dụng, làm sao nói được có Quyền-trí ? Nếu có thể chẳng có dụng, thì Quyền-trí ứng cơ đã tuyệt, làm sao nói là sự ứng cơ càng linh động được ?

Chân-tâm nhiệm mầu thì tịch nhiên vô tri, mà lại nói trống rỗng chiếu soi, có chiếu soi thì là tri rồi, tại sao nói vô tri ? Nói Quyền-trí ứng cơ hóa độ thấu qua ngoài vạn vật, sự ứng cơ đã tuyệt mà linh minh trống rỗng độc tồn thì chẳng nên có sự ứng cơ; có sự ứng cơ là có hai cái tri rồi, tức là một cái tri chiếu soi Chân-đế, một cái tri sáng tỏ Tục-đế, sao lại nói là vô tri ? Ngài đã chứng ngộ thâm sâu, xin thử giải thích cho.

Người bình phẩm còn có chỗ nghi là : Quyền-trí ứng cơ hóa độ, khi ứng cơ hóa độ thì phải biết về căn cơ trình độ của chúng sanh, chẳng thể cho là không có, mà ý chỉ trong Luận lại nói : "Quyền-trí vốn chẳng có cái tri chấp lấy", mà chưa giải thích tại sao chẳng chấp lấy ? Nói trước tiên cần phải xác định rõ đạo ứng cơ hóa độ của Thánh-trí, vậy cho là chỉ có chiếu mà chẳng có tướng ư ? Hay cho là Quyền-trí quán được căn cơ sai biệt của chúng sanh là có tướng ư ?

Nếu quán được căn cơ sai biệt của chúng sanh thì khác với vô tướng. Nếu chỉ có chiếu mà chẳng có tướng thì chẳng có căn cơ nào để mà hóa độ; đã chẳng có căn cơ nào để hóa độ mà lại có công dụng của sự ứng cơ hóa độ, ý nầy tôi chưa hiểu, xin Ngài chỉ dạy cho.

Luận nói : "Chẳng có cơ để ứng thì không có cơ nào chẳng được ứng, chẳng có tâm nhận vật thì không vật nào mà chẳng nhận ra được. Không vật nào mà chẳng nhận ra, nên nhận mà chẳng thấy có chỗ nhận; không có cơ nào chẳng được ứng, nên ứng mà chẳng thấy có cơ nào để ứng".

Sự chẳng có cơ để ứng mà không có cơ nào chẳng được ứng thì mới gọi là Chân-ứng; chẳng có tâm nhận vật mà không vật nào chẳng nhận ra được thì mới gọi là Chân-nhận; há có sự Chân-nhận mà chẳng thấy nhận, sự Chân-ứng mà chẳng thấy ứng, mà lại nói sự ứng mà chẳng có cơ để ứng, sự nhận mà chẳng có vật để nhận ư ?

Nếu nói sự Chân-ứng chẳng phải là sự ứng cơ của phàm tình, sự Chân-nhận chẳng phải là sự nhận của phàm tình, ấy là do sự nói của mê và ngộ vốn khác nhau mà thôi. Như thế thì Tông-chỉ của Luận không được rõ ràng, dám xin thí dụ thêm để khỏi bị nghi hoặc nữa.

Khi Đạo Sanh Pháp-sư đem bài Luận này đến Lư Sơn, tôi cùng với Huệ Viễn Pháp-sư xem xét tường tận, Sư cũng lãnh hội được và tán thán, có thể vì Tông-phái có khác biệt nên lý thú của Đạo-pháp chẳng cần đồng nhất với nhau chăng ? Tôi có đưa cho các vị đồng tu cùng xem, cũng có nhiều vị khen ngợi, nhưng tiếc là không được cùng Ngài gặp mặt.

 

THƯ CỦA TĂNG TRIỆU TRẢ LỜI LƯU DI DÂN

         (Lược bỏ phần thăm hỏi, nay chỉ dịch phần giải đáp về vấn nạn).

Thư ông gởi đến có năm điều muốn hỏi, rất uyển chuyển thiết tha, tôi thật chẳng dám cho là mình có đủ tư cách để giải đáp. Lời của Bần-đạo chẳng được nhập Lý, lại kém về văn tự. Vì Chí-lý thì không thể nói, nói ra thì trái với lý, dù nói nhiều lời mà chẳng diễn tả được trọn vẹn lý thú thì nói cũng vô ích. Nay tôi cả gan theo lời dạy để trả lời mà thôi.

Thư hỏi rằng :

"Nói Thánh-trí tịch diệt, Thật-trí chứng lý cùng tột đồng với trống rỗng, dù ở trong hữu danh mà lại đồng với vô danh, đó là sự nhiệm mầu của Chánh-lý mà kẻ phàm lại càng cảm thấy mê muội". Nếu lấy điều này làm Tâm thì quên lời nói bên ngoài mà được ý bên trong. Định vào một Tâm thì đâu còn theo sự khác biệt của phàm tình để tìm cái khác biệt của Thánh-trí.

Thư viết : Người bình phẩm nói linh minh cùng tột, siêu việt số lượng, cực kỳ vi diệu, âm thầm phù hợp nhất thể với Trung-đạo thì "Tên gọi của tịch và chiếu chỉ là thể của định và huệ mà thôi. Nếu Tâm-thể tự nhiên, linh minh trống rỗng, vô tướng độc tồn thì sự ứng cơ hóa độ chúng sanh dường như đã chấm dứt rồi. Ý nói cực kỳ vi diệu, âm thầm phù hợp nhất thể với Trung-đạo, tức là tâm và cảnh hợp một, thì tịch và chiếu đều bặt, chẳng thể lấy "Định" và "Huệ" làm tên gọi; ý nói linh minh trống rỗng, vô tướng độc tồn thì Chân-tâm không có đối đãi, cho nên nói sự ứng cơ hóa độ chúng sanh chấm dứt". Chẳng biết hai lời nói tuy khác mà diệu dụng luôn luôn là một, vì chấp theo ý mình thành ra khác, nếu theo ý của bậc Thánh thì chẳng khác.

Tại sao vậy ? Sự tịch chiếu nhiệm mầu của Thánh-trí, Thật-trí chứng lý cùng tột đồng với trống rỗng, đã nói là đồng thì không có chỗ nào mà chẳng đến cùng cực, đâu có cái Chánh-lý cùng tột, đồng với trống rỗng lại có hai tên gọi "Định" và "Huệ" ? Hai tên gọi "Định" và "Huệ" vốn cùng một thể, đâu phải ngoài sự đồng còn có hai tên gọi ?

Nếu hai tên gọi "Định" và "Huệ" cùng ở trong "Đồng" thì phàm ngôn ngữ nói ra đều chẳng có thể tánh chân thật, tức là chẳng đồng, nếu ở ngoài sự đồng mà gượng đặt hai tên gọi "Định" và "Huệ" là do sự mê chấp, chứ chính ngay hai tên gọi "Định" và "Huệ" chẳng có mê chấp.

Lại nữa, Thánh-trí trống rỗng, vi ẩn thần diệu, khác với cảnh phàm, không có cơ nào chẳng thích ứng, sự ứng cơ không có chỗ nào mà chẳng thông ? Sự nhiệm mầu của Thánh-trí âm thầm linh động, nên diệu dụng của Quyền-trí luôn luôn là như thế thì sự ứng cơ hóa độ chúng sanh làm sao chấm dứt được ?

Cái tâm "Có" của phàm phu là do nhân duyên mà có; vì có cái "Có", có chẳng tự có, phải đợi nhân duyên mới có. Cái Chân-tâm của bậc Thánh vì lìa duyên nên chẳng có cái "Có", nên sự "Có" chẳng có. Sự "Có" chẳng có nên sự "Không" cũng chẳng không, nên bậc Thánh chẳng có chẳng không. Chẳng có chẳng không thì Thánh-trí trống rỗng độc chiếu, khế hợp với Trung-đạo.

Tại sao ? Sự có và sự không là bóng và tiếng của tâm, ngôn ngữ và hiện tượng là sự phan duyên của bóng và tiếng. Sự có và sự không đã tuyệt, trong tâm chẳng có bóng và tiếng, bóng và tiếng đã tiêu thì ngôn ngữ và hiện tượng chẳng thể suy lường được. Ngôn ngữ và hiện tượng chẳng suy lường được thì Tâm-thể lìa số lượng. Tâm-thể lìa số lượng thì Đạo-pháp trùm khắp mười phương mà chẳng trụ. Đạo-pháp trùm khắp mười phương mà chẳng trụ nên được linh minh cùng tột, siêu việt số lượng. Linh minh cùng tột, siêu việt số lượng nên chân vọng đều bặt, gọi là cực kỳ vi diệu.

Đạo-pháp cực kỳ vi diệu vốn là vô trụ, vô trụ do nơi âm thầm tịch diệt, âm thầm tịch diệt thì thể tánh lìa tướng, nên phải mượn từ "trống rỗng" để tỏ bày.

Cực kỳ vi diệu là bởi siêu việt số lượng, siêu việt số lượng nên có vô biên số lượng để thích ứng với mọi căn cơ; vô biên số lượng để thích ứng mọi căn cơ, nên sự ứng cơ chẳng sai. Mượn từ "trống rỗng" để tỏ bày thì lìa danh lìa tướng, nên Đạo-pháp siêu việt ngoài danh tướng; Đạo-pháp siêu việt ngoài danh tướng nên gọi là "Không" chỉ lìa danh tướng, chẳng phải đoạn diệt, sự ứng cơ chẳng sai nên gọi là "Có" (tùy duyên biến hiện, chẳng phải thật có).

Nói về sự "Có" chẳng phải thật có, chỉ là gượng gọi như thế thôi. Trung-đạo tịch diệt, đâu phải vì ứng cơ mà thành có ? Nên Kinh nói : "Thánh-trí vô tri mà vô sở bất tri, vô vi mà vô sở bất vi".

Cái đạo tịch diệt, vô ngôn vô tướng đâu phải nói "có" mà thật có, đâu phải nói "không" mà thật không; nói động mà trái với tịnh, nói tịnh mà phế bỏ cái dụng ư ?

Nay người bình phẩm chấp theo ngôn ngữ để xác định ý chỉ, muốn ở nơi tịch diệt trống rỗng của Bát-nhã để tìm sự hữu tri và vô tri, dùng ý thức phân biệt để chỉ bày sự nhiệm mầu, lấy cái thành kiến vọng chấp sẵn có cho là phải có sự nhất định đúng hay không đúng.

Cho nên nghe bậc Thánh hữu tri thì nói là hữu tâm, nghe bậc Thánh vô tri thì nói vô tâm đồng như hư không. Cái cảnh "Hữu" và "Vô" đều thuộc về biên kiến (chấp về một bên), đâu phải ở nơi bất nhị của Trung-đạo !

Tại sao ? Vạn vật dù khác nhau mà Thể-tánh vốn luôn luôn là một, chẳng có tên gọi, nhưng chẳng phải không có vật để gọi. Có tâm đối với cảnh thì danh tướng khác nhau là năng sở chưa quên; chẳng có tâm đối với cảnh thì năng sở đều quên, tức vật tức chân.

Cho nên bậc Thánh chẳng lấy cảnh nơi tâm, cũng chẳng phải lìa tâm nơi cảnh; chẳng lấy cảnh nơi tâm thì cảnh chẳng có, chẳng lìa tâm nơi cảnh thì tâm chẳng không; chẳng có cho nên chẳng lấy, chẳng không cho nên chẳng lìa; chẳng lìa nên mỗi pháp đều Chân, chẳng lấy nên danh tướng trống rỗng, danh tướng trống rỗng chẳng phải hữu tri, mỗi pháp đều chân chẳng phải vô tri; nên Kinh nói : "Bát-nhã đối với các pháp chẳng lấy chẳng lìa, vô tri vô bất tri". Chứng tỏ Bát-nhã năng sở đều quên để hiển bày Trung-đạo.

Đây là chỗ lìa tâm ý thức, vượt ra ngoài phan duyên mà muốn lấy sự có và không để cật vấn, há chẳng phải xa lìa Chánh-lý rồi sao ? Cật vấn về sự "Có" và "Không" thì cái trí cật vấn cũng do ý thức phân biệt sanh khởi trong phạm vi hữu tướng, mà pháp vốn vô tướng thì Thánh-trí làm sao tri ? Người đời nói đến vô tri, cho là đồng với gỗ đá, hư-không và những vật vô tình.

Sự chiếu soi linh minh âm thầm sáng tỏ của Bát-nhã, hiện ra sự dụng trước khi một niệm chưa sanh, nên Đạo vô ẩn cơ (thập phương tam thế đều rõ ràng trước mắt, nên gọi là đạo vô ẩn cơ), linh minh như thế là Chánh-biến-tri, đâu thể nói vô tri như gỗ đá được ?

Lại nữa, vô tri sanh khởi nơi hữu tri, thật chẳng có vô tri, chẳng có hữu tri. Chẳng có hữu tri nên nói phi hữu, chẳng có vô tri nên nói phi vô. Cho nên hư chẳng lìa chiếu, tịch mà thường chiếu; chiếu chẳng lìa hư, chiếu mà thường tịch; trống rỗng thường trụ, chẳng chấp chẳng xả, đâu thể do động mà làm cho có, do tịnh mà làm cho không ? Nên Kinh nói :

"Chân Bát-nhã phi hữu phi vô, chẳng sanh chẳng diệt, chẳng thể lấy lời nói tả cho người biết".

Tại sao ? Nói về phi hữu là nói chẳng phải thật có, ý chẳng phải nói tuyệt không có; nói về phi vô là nói chẳng phải thật vô, ý chẳng phải nói thật có. Nói phi hữu chẳng phải phi hữu, nói phi vô chẳng phải phi vô, lìa tứ cú thì tuyệt bách phi; cho nên Tu Bồ-đề suốt ngày thuyết Bát-nhã mà nói là vô sở thuyết.

Đây là đạo tuyệt ngôn, chẳng phải cảnh giới của tri kiến thì sự tri làm sao mà truyền được ? Vậy chỉ có những người tham-cứu, thông đạt ý chỉ huyền diệu, quên cả ngôn ngữ thì Tâm mới lãnh hội được mà thôi.

Trong thư lại nói : "Trước tiên cần phải xác định cái Đạo ứng cơ hóa độ của Thánh-trí, cho là chỉ có chiếu mà chẳng có tướng ư ? Hoặc cho là Quyền-trí quán được căn cơ sai biệt của chúng sanh ư ? "Người bình phẩm hình như nói : Vô tướng với sự quán được sai biệt" ý chỉ chẳng phải là một. Quán được sai biệt thì khác với vô tướng, chiếu soi vô tướng thì mất sự ứng cơ hóa độ. Vậy thì cái nghĩa tức chân hoặc có sai lầm ư

Trong Kinh nói : "Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thi sắc". Nếu như ý chỉ của người bình phẩm thì lúc quán sắc và không, phải một tâm thấy sắc, một tâm thấy không.

Nếu một tâm thấy sắc thì chỉ có sắc, chẳng thấy không; nếu một tâm thấy không thì chỉ có "không" mà chẳng thấy sắc, vậy thì "không" và "sắc" đã thành hai, chẳng định được cái bản ý "Sắc-không bất nhị" ở trong Kinh.

Cho nên Kinh nói phi sắc là để phá sự chấp sắc thật có của phàm hu, chớ chẳng phải lấy phi sắc để phá hư-không, vì hư-không đã là phi sắc rồi. Hư-không đã không phải là sắc thì dù cho có phá được đi nữa cũng không có gì để nhận biết. Nếu lấy phi sắc để phá sắc thì Kinh nói "Không bất dị Sắc" là phi sắc chẳng khác với sắc; "Sắc bất dị không" là sắc chẳng khác với phi sắc, vậy sắc với phi sắc chẳng có khác nhau ?

Nên biết : Quán được sai biệt tức là vô tướng, vô tướng tức là quán được sai biệt; chỉ vì căn cơ của chúng sanh chẳng đồng, nên Giáo-pháp có sự khác biệt mà thôi. Xem xét các Kinh, căn cứ theo ý chỉ thuyết Pháp của chư Phật thì đâu còn có sự khác biệt bởi Chân (Thật-trí) và ngụy (Quyền-trí), đối với hai cảnh "có" và "không" mà sự chiếu soi có khác biệt ư ?

Cho nên chiếu soi vô tướng mà chẳng mất cái công dụng của sự ứng cơ hóa độ, quán được sai biệt mà chẳng trái với ý chỉ vô tướng, tạo "Có" chẳng khác với "Không", dù ở nơi sanh tử mà Tự-tánh chẳng động; tạo "Không" mà chẳng khác với "Có", dù chứng Niết-bàn mà chẳng bỏ chúng sanh. Chưa từng chẳng có, chưa từng chẳng không, nên nói "Bất động đẳng giác mà kiến lập các pháp".

Theo đó mà suy ra thì hai pháp "Tịch" và "Dụng" đâu có khác nhau ? Tại sao lại nói cái trí quán được sai biệt khác với sự chiếu soi của vô tướng ? E rằng người bình phẩm hoặc cho "Không" và "Hữu" là hai tâm, "Tịnh" và "Động" là hai dụng khác biệt, nên mới nói cái Trí quán được sai biệt chẳng thể cho là chẳng có !

Nếu xả bỏ được sự ham chấp dị kiến trong Tâm-thức, tìm Chánh-lý nhiệm mầu ngoài danh tướng, đẳng quán vạn pháp nơi nhất thể, hiểu rõ Pháp-thân vô tướng mà chẳng phải không thì phải nói "Bậc Chí-nhân suốt ngày tùy căn cơ của chúng sanh để ứng cơ hóa độ mà chưa từng cho là có chúng sanh để độ".

Chân-tâm của bậc Thánh như thế, đâu có chỗ để chấp lấy ? Mà lại hỏi : "Chưa giải thích cái lý chẳng chấp lấy". Lại nói :

"Chẳng có tâm nhận vật mới cho là Chân-nhận, chẳng có cơ để ứng mới cho là Chân-ứng". Cũng có thể giống như lời nói trong thư vậy.

Nếu được vô tâm nơi nhận vật thì nhận vật nơi chẳng có tâm nhận, tức là chiếu mà thường tịch; vô tâm nơi ứng cơ mà ứng cơ nơi chẳng có cơ để ứng, tức là tịch mà thường chiếu. Thế thì suốt ngày nhận vật, chẳng trái với "Không có tâm nhận"; suốt ngày ứng cơ, chẳng trái với "Không có cơ để ứng".

Chỉ e rằng tâm chấp chưa quên, nên chấp thật sự nhận vật nơi chẳng có tâm để nhận, chấp thật sự ứng cơ nơi chẳng có cơ để ứng, đó là vì tình chấp chưa quên nên mới có sự sai vậy.

Tại sao ? Nếu Chân-nhận là nhận vật, Chân-ứng là ứng cơ thì tâm và cảnh chưa quên, nên danh tướng theo đó mà hình thành, tốt xấu do đó mà sanh ra, đời đời kiếp kiếp đuổi theo tâm cảnh thì bệnh chấp trước đến khi nào mới hết ? Cho nên bậc Thánh trống rỗng nơi tâm, vô thức vô tri, muôn cảnh đều tịch diệt.

Vì vậy, đang lúc linh động chiếu dụng mà ngưng nghỉ nơi cảnh vô vi; đang ở trong căn nhà hữu danh mà lại sống nơi quê hương tuyệt ngôn, tịch chiếu trống rỗng, chẳng thể theo danh tướng mà biết được. Chân-tâm của bậc Thánh như thế mà lại cho : "Chân-nhận là nhận, Chân-ứng là ứng".

Tôi cũng chưa rõ ý chỉ của người bình phẩm, nhưng e rằng sự nhận vật ứng cơ của họ là do vọng chấp của phàm phu mà sanh khởi, vậy làm sao có thể hiểu được Chân-tâm của bậc Thánh.

Kỳ thực Chân-tâm của bậc Thánh thì chẳng phải như vậy. Sự diễn tả của ngôn ngữ khởi lên, vì phàm phu tìm danh chấp tướng, theo lời nhận nghĩa, từ đó mới sanh ra nhiều sự khác biệt vậy !

Dùng ngôn ngữ để hiển bày cái Đạo tuyệt ngôn thì diễn tả cũng chẳng phải là diễn tả. Cho nên người khéo nói mà dùng ngôn ngữ thì tỏ bày được những sự mà người ta không thể tỏ bày. Người khéo diễn tả thì diễn tả được những điều mà người ta chẳng thể diễn tả.

Sự chí lý trống rỗng nhiệm mầu hễ khởi tâm động niệm là sai trái rồi, huống là có ngôn ngữ để diễn tả ? E rằng bức thư chỉ dạy chưa quên danh tướng, muốn đến chỗ chí lý còn rất xa xôi, chỉ có người tâm trí thông suốt mới có thể gặp nhau ngoài văn tự vậy.

Tác giả bài viết: thichdaophat

Nguồn tin: Tông Phong Tàng Thư

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn