04:20 EDT Thứ hai, 22/07/2019

Giới Thiệu

Thiền sư Bác sơn

Hòa-thượng Bác Sơn (1575-1630), họ Sa, tên Đại Hy, tự là Vô Dị, người đời thường gọi là Ngài là Thiền-sư Vô Dị. Sư năm 16 tuổi phát chí xuất gia, đến chùa Ngõa Quan ở Kim Lăng nghe giảng kinh Pháp Hoa, cảm khái than : “Cầu điều đó ngay nơi mình, há có thể đuổi theo câu văn mà được ư ?” Sư bèn bỏ đi...

Danh mục chính

Liên Kết Trang

HUE NANG
TS NGUYET KHE
TS DUC SON

Trang nhất » Tông Phong Tàng Thư » Kinh » Kinh Viên Giác

Kinh Viên Giác - quyển 6

Chủ nhật - 07/04/2013 01:47 Xem: 1058

Khi ấy Phổ-giác Bồ-tát ở trong Đại-chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, đi nhiễu quanh Phật ba vòng, đảnh lễ chân phật, chấp tay quỳ gối bạch Phật rằng :

- Đại bi Thế-tôn ! Đã thuyết rõ những thiền bệnh, khiến Đại-chúng trong Hội được Pháp chưa từng có, tẩy sạch nghi ngờ trong tâm ý, được đại yên ổn.

Bạch Thế-tôn ! chúng sanh đời Mạt-pháp xa dần đời Phật, bậc Thánh-hiền ẩn dật, tà pháp lại thịnh thêm. Vậy chúng sanh muốn tu hành phải cầu người thế nào, nương theo pháp nào, hành theo hạnh nào, trừ bỏ bệnh gì, phát tâm như thế nào khiến cho chúng sanh mê muội khỏi đoạ tà-kiến ?

Ngài Phổ-giác Bồ-tát nói xong, năm vóc gieo sát đất, đảnh lễ thưa thỉnh ba lần như vậy.

Bấy giờ Phật bảo Phổ-giác Bồ-tát rằng :

-  Lành thay ! Lành thay ! Thiện-nam-tử ! Ngươi khéo hỏi Như-lai về sự tu hành như thế, hay bố thí Đạo-nhãn vô úy cho tất cả chúng sanh đời Mạt-pháp, khiến chúng sanh được thành Thánh-đạo. Nay ngươi hãy lắng nghe, Ta sẽ vì ngươi mà thuyết.

Khi ấy Phổ-giác Bồ-tát và tất cả Đại-chúng trong Hội hoan hỷ vâng lời Phật dạy, im lặng mà nghe.

- Thiện-nam-tử ! chúng sanh đời Mạt-pháp ngươi muốn tu hành nên phát đại tâm cầu Thiện-tri-thức, tức là phải cầu người có Chánh-tri-kiến, chẳng chấp cảnh giới Thanh-văn Duyên-giác, tâm chẳng trụ tướng, dù hiện trần lao, tâm thường trong sạch, thị hiện có lỗi mà tán thán Phạm-hạnh (thanh tịnh hạnh), khiến chúng sanh thường giữ Giới-luật, cầu người như thế mới được thành tựu Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác. Chúng sanh đời Mạt-pháp gặp người như thế nên chẳng tiếc thân mạng mà phụng sự cúng dường. Thấy những Thiện-tri-thức trong tứ oai nghi thường hiện các hạnh trong sạch ấy là thuận độ; hoặc gặp Bồ-tát nghịch độ, thị hiện đủ thứ tội lỗi mà tâm chẳng kiêu mạn, dù cho Bồ-tát ấy có vợ con quyến thuộc, giữ lấy tiền tài cũng chẳng sanh tâm khinh bỉ. Nếu Thiện-nam-tử đối với các thầy bạn kể trên chẳng khởi ác niệm thì được đến chỗ rốt ráo thành tựu Chánh-giác, nên Bản-tâm sáng tỏ chiếu khắp mười phương cõi Phật.

Thiện-nam-tử ! Diệu-pháp sở chứng của Thiện-tri-thức ấy nên lìa bốn bệnh. Thế nào là bốn bệnh :

- Một là Tác bệnh (bệnh làm) : Nếu có người nói rằng nơi Bản-tâm ta tác đủ thứ hạnh để cầu Viên-giác, nhưng tánh của Viên-giác chẳng do tác mà cầu được, nên gọi là bệnh.

- Hai là Nhậm bệnh (bệnh mặc kệ) : Nếu có người nói rằng nay ta chẳng dứt sanh tử, chẳng cầu Niết-bàn, đối với sanh tử Niết-bàn chẳng có một niệm khởi hay diệt, mặc kệ (nhậm) tất cả, đều tùy Pháp-tánh. Mặc kệ như thế mà muốn cầu Viên-giác, nhưng tánh của Viên-giác chẳng do nhậm mà có, nên gọi là bệnh.

- Ba là Chỉ bệnh (bệnh dừng lại) : Nếu có người nói rằng nay tự tâm ta dừng hẳn các niệm, cho tất cả tánh đều tịch nhiên bình đẳng, vậy muốn nhờ Chỉ (dùng) niệm để cầu Viên-giác, nhưng tánh Viên-giác ấy chẳng hợp với Chỉ, nên gọi là bệnh.

- Bốn là Diệt bệnh : Nếu có người nói rằng nay ta dứt hẳn tất cả phiền não, thân tâm rốt ráo rỗng không chẳng có gì cả, huống là cảnh giới hư vọng, Căn-trần tất cả diệt hẳn để cầu Viên-giác. Nhưng tánh Viên-giác ấy chẳng phải tướng diệt, nên gọi là bệnh.

Người đã lìa bốn bệnh thì Bản-tri trong sạch, theo quán-chiếu này gọi là Chánh-quán, nếu theo quán-chiếu khác gọi là Tà-quán.

Lược giải :Tác, Chỉ, Nhậm, Diệt : Diệu-tánh của Viên-giác vốn chẳng thuộc nơi tác, chỉ, nhậm, diệt, nên lìa bốn bệnh này thì Tự-tánh tròn đầy sáng tỏ, vốn chẳng thiếu sót, gọi là trong sạch. Nay dù nói là bệnh, nhưng đối với người chưa ngộ đều thuộc về công dụng của sự tu hành, thì bốn thứ bệnh là bốn thứ thuốc. Nay tùy theo Tự-tánh của Viên-giác mà nói thì Bản-tánh vốn sẵn đầy đủ, chẳng nhờ công dụng nên mới gọi là bệnh vậy.

- Thiện-nam-tử ! Chúng sanh đời Mạt-pháp, người muốn tu hành nên hết lòng cúng dường thầy bạn Chánh tu, phụng sự Thiện-tri-thức. Nếu Thiện-tri-thức ấy đến thân cận với mình, nên dứt tâm kiêu mạn, nếu muốn xa lìa mình, nên dứt tâm sân hận, gặp cảnh thuận nghịch đều như hư không, liễu tri thân tâm rốt ráo bình đẳng, với tất cả chúng sanh đồng thể chẳng khác. Tu hành như thế mới được ngộ nhập Viên-giác.

Thiện-nam-tử ! chúng sanh đời Mạt-pháp chẳng được thành Đạo là do có tất cả chúng tử yêu ghét giữa mình và người vô thỉ, nên chưa được giải thoát. Nếu có người xem kẻ oán thù như cha mẹ mình, tâm chẳng có hai, liền trừ được các bệnh nơi các pháp, sự yêu ghét giữa mình và người thì cũng như vậy.

Thiện-nam-tử ! chúng sanh đời Mạt-pháp muốn cầu Viên-giác nên phát tâm như thế này : Tất cả chúng sanh nơi tất cả hư không, ta đều khiến cho ngộ nhập Viên-giác rốt ráo, ở nơi Viên-giác chẳng có kẻ thủ chứng Viên-giác, dứt trừ tất cả các tướng nhơn ngã v.v... Phát tâm như thế thì chẳng đoạ tà-kiến.

Lúc ấy Thế-tôn muốn giảng lại nghĩa này mà thuyết Kệ rằng :

Phổ-giác ngươi nên biết,

Chúng sanh đời Mạt-pháp,

Muốn cầu Thiện-tri-thức,

Nên cầu người Chánh-kiến.

Xa lìa người Nhị-thừa,

Trong pháp trừ bốn bệnh,

Là Tác, Chỉ, Nhậm, Diệt,

Thầy đến chẳng kiêu mạn,

Thầy đi chẳng sân hận.

Thấy đủ thứ cảnh giới, (thuận độ nghịch của Bồ-tát).

Nên sanh tâm hy hữu.

Xem như Phật ra đời,

Chẳng vi phạm Luật-nghi.

Giới-căn trong sạch hẳn,

Độ tất cả chúng sanh.

Cứu cánh vào Viên-giác,

Chẳng có tướng nhơn, ngã.

Theo trí huệ Chánh-pháp.

Tu hành siêu tà-kiến,

Chứng nhập Đại-niết-bàn.

Khi ấy Viên-giác Bồ-tát ở trong Đại-chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, đi nhiễu quanh Phật ba vòng, đảnh lễ chân phật, chấp tay quỳ gối bạch Phật rằng :

- Đại bi Thế-tôn đã vì chúng con giảng rõ đủ thứ phương-tiện của Viên-giác trong sạch, khiến chúng sanh đời Mạt-pháp được lợi ích lớn.

Bạch Thế-tôn ! Chúng con nay đã khai ngộ, sau khi Phật diệt-độ, chúng sanh đời Mạt-pháp, người chưa được ngộ, tu theo cảnh giới trong sạch của Viên-giác này, nên an cư như thế nào ? Nơi Viên-giác này có ba thứ Thiền-quán trong sạch, nên bắt đầu tu quán nào ? Xin Phật rủ lòng đại bi, vì Đại-chúng trong Hội và chúng sanh đời Mạt-pháp, bố thí đại Pháp để lợi ích cho sự tu hành.

Ngài Viên-giác Bồ-tát nói xong, năm vóc gieo sát đất, đảnh lễ thưa thỉnh ba lần như vậy.

Bấy giờ Phật bảo Viên-giác Bồ-tát rằng :

-  Lành thay ! Lành thay ! Thiện-nam-tử ! Ngươi khéo hỏi Như-lai về những phương tiện như thế, cầu lợi ích lớn bố thí cho chúng sanh, Nay ngươi hãy lắng nghe, Ta sẽ vì ngươi mà thuyết.

Lúc ấy Viên-giác Bồ-tát và Đại-chúng hoan hỷ vâng lời Phật dạy, im lặng mà nghe.

- Thiện-nam-tử ! Tất cả chúng sanh, hoặc khi Phật còn tại thế, hoặc sau khi Phật diệt-độ, hoặc trong đời Mạt-pháp, có những chúng sanh sẳn đủ tánh Đại-thừa, tin Giác-tâm viên mãn bí mật của Phật, muốn theo đó tu hành; nếu có ngoại duyên chướng ngại thì nên tùy theo bổn phận quán chiếu như Ta đã nói ở trên. Nếu chẳng bị ngoại duyên chướng ngại, thì nên cho đồ chúng an cư nơi Già-lam (chùa chiền), Đại-chúng cùng tu. Kiến lập đạo-tràng, thiết lập kỳ hạn : Dài là 120 ngày, trung bình là 100 ngày, ngắn là 80 ngày, tùy duyên sắp đặt chỗ ăn ở sạch sẽ cho dễ nhập đạo.

Khi Phật còn tại thế, được thân cận Phật quán-chiều theo Chánh-pháp. Sau khi Phật diệt-độ thì treo bảy hình tượng Phật, mắt nhìn tượng Phật, tâm nghĩ hạnh Phật, sanh niệm tưởng nhớ Chánh-pháp như lúc Phật còn tại thế. Lại treo những Tràng-phan, hương, hoa, trải qua 21 ngày, đảnh lễ danh hiệu của mười phương chư Phật, thiết tha cầu sám hối, luôn luôn nhiếp hiện tu theo thiền-quán kể trên, trải qua 21 ngày, nếu gặp cảnh giới tốt thì tâm được khinh an.

Mỗi năm kiết hạ an cư ba tháng là muốn cho những Bồ-tát được ở yên chuyên tu Pháp-đại-thừa trong sạch, nên tâm phải lìa Thanh-văn. Vì muốn cho Bồ-tát tự tiện chuyên tu Pháp-quán của Đại-thừa, nên chẳng nhờ đồ chúng Tiểu-thừa cùng nhau kiết hạ.

Đến ngày an cư, nên ở trước tượng Phật nói rằng : Chúng con là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di (mỗi người tự xưng tên mình), theo Bồ-tát-thừa, tu Tịch-diệt-hạnh, đồng nhập đồng trụ, nơi Thực-tướng trong sạch, dùng Đại-viên-giác làm Già-lam của chúng con, thân tâm an cư nơi Tự-tánh Niết-bàn, Tánh-trí bình đẳng, chẳng bị lệ thuộc, nay chúng con chẳng nương theo Pháp-thanh-văn, kính thỉnh mười phương Như-lai và Đại-bồ-tát cùng với chúng con an cư ba tháng. Vì muốn chuyên tu Vô-thuợng Diệu-giác của Bồ-tát-thừa, do đại nhân duyên này nên chẳng nhờ đồ chúng Tiểu-thừa cùng nhau kiết hạ.

- Thiện-nam-tử ! Đây gọi là thị hiện an cư của Bồ-tát, qua ba thời kỳ kiết hạ, sau ngày giải hạ, vì Bồ-tát đã dùng Quán-trí an tâm, nên khi ra ngoài chẳng cần có chúng bạn cùng đi, tùy ý mình đi đâu cũng chẳng ngại.

- Thiện-nam-tử ! Nếu chúng sanh đời Mạt-pháp, tu hành đạo Bồ-tát, nhập hạ ba kỳ đã nghe Phật dạy những Thiền-quán và Căn, Trần, Thức, mỗi mỗi trong sạch kể trên, ấy là Chánh-pháp Đại-chúng đã nghe, còn tất cả cảnh giới chẳng phải sở nghe của Đại-chúng thì chẳng nên chấp lấy để tu.

- Thiện-nam-tử ! Nếu những chúng sanh tu Thiền-quán Sa-ma-tha, trước tiên dùng sức cực tịnh, chẳng khởi một niệm nào. Tịnh đến chỗ cực, liền hiện Bản-giác, ấy là Sơ-tịnh. Từ nơi một thân cho đến một thế giới đều cũng như thế.

- Thiện-nam-tử ! Nếu Bản-giác cùng khắp một thế giới thì trong thế giới đó có một chúng sanh nào tâm khởi một niệm cũng đều biết cả, cho đến trăm ngàn thế giới điều cũng như thế. Đây là Chánh-quán, Đại-chúng đã nghe, còn tất cả cảnh giới chẳng phải sở nghe của Đại-chúng, thì chẳng nên chấp lấy để tu.

- Thiện-nam-tử ! Nếu các chúng sanh tu thiền-quán Tam-ma-bát-đề, trước tiên nên tưởng nhớ mười phương Như-lai, tất cả Bồ-tát ở nơi mười phương thế giới, y theo mỗi mỗi Pháp-môn của Phật dạy, tùy thứ lớp tu hành siêng năng khổ hạnh, độ các chúng sanh, ở nơi Chánh-định phát đại nguyện, dùng Như-huyễn-quán (Tam-ma-bát-đề) tự huân tập thành chủng tử Phật. Đây là Chánh-quán Đại-chúng nghe, còn tất cả cảnh giới chẳng phải sở nghe của Đại-chúng thì chẳng nên chấp lấy để tu.

- Thiện-nam-tử ! Nếu các chúng sanh tu Thiền-quán Thiền-na, trước tiên Quán-sổ-tức, trong tâm liễu tri ngằn mé số niệm của sanh, trụ, diệt. Sự liễu tri ấy cùng khắp trong tứ oai nghi, phân biệt mỗi niệm, không một niệm nào chẳng liễu tri. Vậy tùy thứ lớp tiến lên, cho đến được biết một giọt mưa ở nơi xa trăm ngàn thế giới, cũng như đồ dùng của mình thấy ngay trước mắt. Đây là Chánh-quán, Đại-chúng đã nghe, còn tất cả cảnh giới chẳng phải sở nghe của Đại-chúng, thì chẳng nên chấp lấy để tu.

Đây gọi là phương-tiện đầu tiên của 3 thứ Thiền-quán kể trên. Nếu các chúng sanh lợi căn siêng năng khổ hạnh tinh tấn, đồng thời tu đủ ba thứ thiền-quán, thì gọi là Như-lai xuất hiện trên đời, còn những chúng sanh độn căn đời Mạt-pháp, tâm muốn cầu Đạo mà chẳng được thành tựu, là do nghiệp chướng đi trước, thì nên siêng năng sám hối, thường mong đoạn đứt những tâm yêu ghét, ganh tỵ, xiễm khúc, kiêu mạn (có tâm cầu thù thắng vô thượng là tâm kiêu mạn), chọn một thứ trong 3 thứ Thiền-quán trong sạch kể trên, tùy sức tu tập một thứ Thiền-quán, quán nầy tu không dược thì tu quán khác, tâm chẳng buông lung, tùy theo thứ lớp để cầu chứng nhập.

Lúc ấy Thế-tôn muốn giảng lại nghĩa này mà thuyết Kệ rằng :

Viên-giác ngươi nên biết,

Tất cả những chúng sanh,

Muốn cầu Đạo-vô-thượng,

Trước lập ba kỳ hạn.

Sám hối nghiệp vô thỉ,

Qua hai mươi mốt ngày.

Rồi tu Chánh-quán Phật,

Chánh-quán Chúng đã nghe,

Còn cảnh giới tà quán,

Chẳng phải Chúng sở nghe,

Thì chẳng nên chấp lấy.

Sa-ma-tha cực tịnh,

Tam-ma-đề ghi nhớ,

Thiền-na quán sổ tức.

Gọi ba Quán trong sạch,

Nếu người siêng tu tập,

Gọi là Phật ra đời.

Độn-căn chưa thành tựu,

Thường nên siêng sám-hối.

Tất cả tội vô thỉ,

Nếu các chướng tiêu diệt,

Cảnh Phật liền hiện tiền.

Khi ấy Hiền-thiện-thủ Bồ-tát ở trong Đại-chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, đi nhiễu quanh Phật ba vòng, đảnh lễ chân Phật, chấp tay quỳ gối bạch Phật rằng :

- Đại bi Thế-tôn ! Đã vì chúng con và chúng sanh đời Mạt-pháp, khai-thị việc bất khả tư nghì như thế.

Bạch Thế-tôn ! Kinh-giáo Đại-thừa này phải đặt tên gì ? Thọ trì như thế nào ? Chúng sanh tu tập được công đức gì ? Khiến con hộ vệ người trì Kinh như thế nào ? Phổ biến Giáo-pháp này đến bậc địa vị nào ?

Ngài Hiền-thiện-thủ Bồ-tát nói xong, năm vóc gieo sát đất, đảnh lễ thưa thỉnh ba lần như vậy.

Bấy giờ Phật bảo Hiền-thiện-thủ Bồ-tát rằng :

-  Lành thay ! Lành thay ! Thiện-nam-tử ! Ngươi khéo vì các Bồ-tát và chúng sanh đời Mạt-pháp hỏi Như-lai về vấn đề Kinh-giáo, công đức, tên gọi như thế, nay ngươi hãy lắng nghe, Ta sẽ vì ngươi mà thuyết.

Lúc ấy Hiền-thiện-thủ Bồ-tát và tất cả Đại-chúng trong Hội hoan hỷ vâng lời Phật dạy, im lặng mà nghe.

- Thiện-nam-tử ! Kinh này là do trăm ngàn muôn ức Hằng-sa chư Phật sở thuyết, được tam thế Như-lai hộ trì, là chỗ quy y của mười phương Bồ-tát, là con mắt trong sạch của mười hai bộ Kinh, Kinh này gọi là Đại Phương Quảng Viên Giác Tổng Trì, cũng gọi là Khế Kinh Liễu Nghĩa, cũng gọi là Bí Mật Vương Tam Muội, cũng gọi là Cảnh Giới Quyết Định của Như-lai, cũng gọi là Tự Tánh Sai Biệt trong Như-lai-tạng, ngươi nên thọ trì.

Thiện-nam-tử ! Kinh này hiển bày cảnh giới của Như-lai, chỉ có Phật Như-lai mới có thể giảng thuyết đến chỗ cùng tột. Nếu các Bồ-tát và chúng sanh đời Mạt-pháp theo đó tu hành, tùy thứ lớp tiến lên, sẽ đến địa vị Phật.

Thiện-nam-tử ! Kinh này gọi là Đại-thừa Đốn-giáo, chúng sanh lợi căn do đó đốn ngộ, lại cũng bao gồm Pháp-tiệm-tu cho tất cả chúng sanh. Ví như biển lớn chẳng bỏ sót dòng nước nhỏ, cho đến ruồi muỗi và A-tu-la, uống nước này đều được no đủ cả.

Thiện-nam-tử ! Giả sử có người đem thất bửu chất đầy Tam thiên đại thiên thế giới dùng để bố thí, chẳng bằng có người nghe tên Kinh này hay nghĩa một câu trong Kinh (Thất bửu thế gian chất đầy cõi Phật để bố thí chỉ gieo được phước hữu lậu, một lời nói chí lý thì sẽ chuyển phàm thành Thánh).

Thiện-nam-tử ! Giả sử có người giáo hoá trăm ngàn Hằng-sa chúng sanh đắc quả A-la-hán, chẳng bằng có người giảng thuyết Kinh này cho người nghe được hiểu thấu nửa bài Kệ trong đó.

Thiện-nam-tử ! Nếu có người nghe tên Kinh này lòng tin vững chắc, nên biết người ấy đã gieo trồng thiện căn phước huệ nơi Hằng-sa tất cả chư Phật, nên được nghe Kinh-giáo này mà tướng chẳng nghi hoặc, chứ chẳng phải gieo trồng thiện căn nơi một Phật hai Phật mà được như thế.

Thiện-nam-tử ! Các ngươi nên hộ trì người tu hành đời Mạt-pháp, chẳng cho Ác-ma và Ngoại-đạo nhiễu loạn thân tâm họ, khiến cho lui sụt.

Lúc ấy, trong Hội có Hỏa-thủ Kim Cang, Tồi-toái Kim Cang, Ni-lam-bà Kim Cang, v.v... tám vạn Kim Cang với quyến thuộc họ đều từ chỗ ngồi đứng dậy đi nhiễu quanh Phật ba vòng, đảnh lễ chân Phật mà thưa rằng :

- Bạch Thế-tôn ! Nếu tất cả chúng sanh đời Mạt-pháp có người trì Kinh này, quyết định tu Pháp-đại-thừa, chúng con xin gìn giữ hộ trì như gìn giữ con mắt, cho đến bất cứ chỗ Đạo-tràng, chỗ tu hành nào, chúng con đều tự lãnh đồ chúng, ngày đêm hộ trì khiến khỏi bị lui sụt. Cho đến khiến gia đình họ thoát hẳn tai chướng, tật bệnh tiêu diệt, của cải phong túc, chẳng có thiếu thốn.

Khi ấy Đại Phạn Thiên-vương, hai mươi tám Thiên-vương cùng với Tu-di Sơn-vương, Hộ Quốc Thiên-vương, v.v... đều từ chỗ ngồi đứng dậy, đi nhiễu quanh Phật ba vòng, đảnh lễ chân Phật mà thưa rằng :

- Bạch Thế-tôn ! Chúng con cũng giữ gìn hộ vệ người trì Kinh này, khiến được thân tâm thường yên ổn, chẳng bị lui sụt.

Khi ấy có Đại Lực Quỷ-vương tên là Cát-bàn-trà, với mười vạn Quỷ-vương đều từ chỗ ngồi đứng dậy, đi nhiễu quanh Phật ba vòng, đảnh lễ chân Phật mà thưa rằng :

- Bạch Thế-tôn ! Chúng con cũng ngày đêm giữ gìn hộ vệ người trì Kinh này, khiến chẳng bị lui sụt. Chung quanh một do-tuần chỗ người ấy ở, nếu có Quỷ-thần nào đó xâm phạm, thì chúng con sẽ đánh nát họ thành vi trần.

Phật thuyết Kinh này xong, tất cả Bồ-tát, bát bộ Thiên-long Quỷ-thần cùng quyến thuộc họ, và các Thiên-vương, Phạn-vương, v.v... Tất cả Đại-chúng trong Hội nghe lời Phật thuyết đều hoan hỷ, tín thọ phụng hành./.

HẾT

Tác giả bài viết: thichdaophat

Nguồn tin: Tông Phong Tàng Thư

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin cũ hơn