20:26 EDT Chủ nhật, 25/08/2019

Giới Thiệu

Phật Thích-ca

Thích-ca Mâu-ni là Phật thứ tư trong Hiền kiếp, họ Sát-lỵ, cha là vua Tịnh-phạn, mẹ hoàng hậu Ma-da. Dòng Sát-lỵ làm Vua từ khi châu Diêm-phù-đề bắt đầu. Phật trải qua nhiều kiếp tu hành được Phật Nhiên Đăng thọ ký kế vị Phật Ca-diếp, thành Phật trong kiếp này. Phật xưa kia đắc đạo Bồ-tát, sanh...

Danh mục chính

Liên Kết Trang

HUE NANG
TS NGUYET KHE
TS DUC SON

Trang nhất » Tông Phong Tàng Thư » Kinh » Kinh Lăng Nghiêm

Kinh Lăng Nghiêm - Quyển 6 (tt)

Thứ bảy - 06/04/2013 14:48 Xem: 838
phần sau
172- Ngươi nghe vô số Phật, 

Tất cả pháp bí mật.

Nếu chẳng trừ dục lậu,

Chấp nghe thành lỗi lầm,

Dùng nghe, chấp lời Phật,

Đâu bằng nghe bản văn ?

178- Nghe chẳng tự nhiên sanh, 

Do tiếng có tên "nghe", 

Xoay nghe thoát khỏi tiếng, 

Đặt tên "nghe" cho ai ?

182- Nhất Căn trở về cội, 

Lục Căn thành giải thoát, 

Kiến văn như bệnh nhặm, 

Tam-giới như hoa đốm. 

Phản Văn bệnh nhặm trừ, 

Trần tiêu, giác trong sạch, 

Cực trong sáng thông suốt, 

Chiếu soi khắp hư không. 

Trở lại xem thế gian, 

Đều như việc trong mộng. 

Ma-đăng-già trong mộng, 

Sao nhiếp được thân ngươi !

194- Như người khéo huyễn thuật, 

Làm ra hình nam nữ, 

Dù thấy lục Căn động, 

Do sợi dây điều khiển 

Vì huyễn vốn chẳng tánh, 

Dây ngưng thành vắng lặng. 

Lục Căn cũng như vậy, 

Dựa nhất tâm sáng tỏ, 

Chia thành lục hòa hợp, 

Nhất Căn đã về cội. 

Lục dụng đều chẳng thành. 

Trần cấu ngay đó tiêu, 

Thành sáng tỏ trong sạch. 

Ngôi học còn dính bụi, (7)

Cực sáng tức Như-lai.

209- Đại Chúng và A-nan, 

Xoay cái Văn điên đảo.

Phản Văn bản tánh Văn, (8)

Mới thành vô thượng đạo,

Viên thông thật như thế.

214- Đây là vô số Phật, 

Một cửa vào Niết-bàn. 

Quá khứ chư Như-lai, 

Do cửa này thành tựu, 

Hiện tại chư Bồ-tát.

Mỗi mỗi vào Diệu-minh,

Người tu học vị lai,

Nên y theo Pháp này.

Chẳng những Quán-thế-âm,

Ta chứng cũng cửa này,

224- Đúng như lời Thế Tôn, 

Hỏi về các phương tiện, 

Để cứu độ Mạt-kiếp, 

Người cầu Pháp xuất thế, 

Thành tựu tâm Niết-bàn,

Quán-thế-âm hơn cả.

230- Ngoài ra phương tiện khác,

Đều là oai thần Phật, 

Sâu cạn tùy cơ thuyết, 

Khiến xả bỏ trần lao.

Chẳng phải lối tu chánh.

Đảnh lễ Như-lai-tạng,

Vô lậu bất tư nghì, 

Nguyện giúp đỡ đời sau, 

Chẳng lầm nơi cửa này, 

Phương tiện dễ thành tựu, 

Để dạy cho A-nan, 

Và chúng sanh Mạt-kiếp, 

Cứ theo Căn này tu, 

Viên thông hơn pháp khác, 

Thế là Tâm chơn thật.

GHI CHÚ

(1) Dược-xoa (nhẹ nhàng, nhanh chóng), có ba loại :

Địa Dược-xoa : Dùng tài thí nên chẳng thể bay.

Không Dược-xoa : Thiên Dược-xoa : Dùng xe cộ bố thí nên bay được.

Khi Phật chuyển Pháp-luân. Địa Dược-xoa ca ngợi, Không Dược-xoa nghe. Thiên Dược-xoa ca ngợi. Tứ Thiên-vương cho đến Phạm-thiên nghe.

(2) Càn-thát-bà (tìm mùi hương) : Nhạc thần của Đế-thích.

(3) Khẩn-na-la : Phi nhân, giống người mà đầu có sừng.

(4) Ma-hầu-la-già : Đại mãnh xà, bụng lớn.

(5) Thân với xúc đồng nhau, chẳng phải Viên-giác quán :

Sự Xúc-giác rõ ràng, chỉ có thân mới biết, quên thân thuần giác, cũng chẳng phải Viên-giác, phải như Viên-giác Quán, thân tâm đều siêu việt, chẳng có ngằn mé, mới có thể chẳng nhờ thân biết mà thầm hội (ngộ) vạn pháp. Nay có thân có xúc, thì sự biết có ngằn mé, chẳng phải viên thông vậy.

(6) Trụ thành chấp sở trụ, làm sao được viên thông.

Sự nhiếp tâm thật là khó, trước kia tán loạn chỉ e chẳng trụ, sau được tịch tịnh, lại thành sở trụ của Tâm. Trụ và chẳng trụ đều chẳng phải bản thể của Vô-trụ, nên chẳng được viên thông.

(7) Ngôi học còn dính bụi, cực sáng tức Như-lai :

Theo Hoa Nghiêm Hợp Luận : Sơ tâm Bồ-tát vì lòng tin Chơn-như vững chắc, được thấy biết ít phần của thân Như-lai chẳng đoạn diệt, chẳng khứ lai, nhưng Bồ-tát này còn chưa thể lìa sự phân biệt vi tế, nên chỉ thấy thô dụng, chưa được vào ngôi pháp-thân.

Tịnh tâm Bồ-tát còn thấy vi tế dụng, như thế dần dần tiến lên, cho đến bậc Bồ-tát cứu cánh, mới hết thấy vi tế dụng, gọi là Thân thọ dụng.

Vì có nghiệp thức, mới có tâm thấy thọ dụng, nếu lìa nghiệp thức thì chẳng thể thấy. Tại sao ? Vì tất cả Như-lai đều là Pháp-thân; Pháp-thân chẳng có sắc tướng sai biệt để thấy nhau, nên chẳng thể thấy.

Tại sao hết thấy vi tế dụng, gọi là Thân thọ dụng ? Vì còn có Thân thọ dụng để biết sự "hết thấy", vẫn là tướng vi tế của nghiệp thức. Các bậc hữu học và vô học còn dính mắc tướng vi tế này như gương dính bụi, nên nói "Ngôi học còn dính bụi". Nếu nghiệp thức vi tế đã sạch, chẳng thấy có sự thọ dụng, gọi là Pháp-thân Như-lai. Vậy bụi sạch gương sáng tỏ, nên nói "Cực sáng tức Như-lai".

(8) Phản Văn bản tánh Văn :

Nếu chấp cái nghe là thật, thì không nghe ngoài phải nghe trong, không nghe động phải nghe tịnh. Nghe trong, ngoài, động, tịnh, đều là bỏ gốc theo ngọn, nên gọi là cái nghe điên đảo. Xoay cái nghe điên đảo này về Chánh, Chánh thì chẳng có năng văn, sở văn, vậy mới gọi là 'Phản Văn', cũng là 'Bản tánh văn'; nghịch cảnh trần, hợp Giác-tánh, nên gọi là Chánh. Đã trở về Bản-văn, tức thấy 'bản lai diện mục', cũng là tánh Văn này, liền thành Vô-thượng Bồ-đề.

*****

Tam Vô Lậu Học

A-nan cùng Đại Chúng được khai-thị lớn, thân tâm sáng suốt, rõ biết đạo Bồ-đề và Đại Niết-bàn, cũng như có người đi xa, dù chưa được trở về, nhưng đã biết rõ con đường về nhà. Đại Chúng trong hội với Thiên Long Bát Bộ, hàng Nhị-thừa hữu học và tất cả Bồ-tát mới phát tâm, gấp mười lần Hằng-sa, đều nhận được Bản-tâm, xa lìa trần cấu, được Pháp-nhãn trong sạch. Tỳ-kheo-ni Tánh nghe bài kệ xong, liền đắc quả A-la-hán, vô số chúng sanh đều phát tâm Vô Đẳng Đẳng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

A-nan ở trong Chúng sửa áo chỉnh tề, chắp tay đảnh lễ, nơi tâm sáng tỏ, lòng bi hoan hỷ. Vì muốn lợi ích cho chúng sanh vị lai, cúi đầu bạch Phật :

- Bạch Thế Tôn ! Nay con đã ngộ Pháp-môn thành Phật, theo đó tu hành, chẳng còn nghi hoặc. Con thường nghe Như-lai nói : Tự mình chưa ngộ mà độ người khác trước, ấy là chỗ phát tâm của Bồ-tát; Tự-giác đã trọn, hay giác ngộ người khác, ấy là sự độ thế của Như-lai. Con dù chưa được ngộ, nhưng nguyện độ tất cả chúng sanh trong đời Mạt-pháp. Thế Tôn, những chúng sanh này cách Phật ngày càng xa, bọn Tà-sư thuyết pháp như Hằng-sa, muốn nhiếp tâm họ nhập Tam-ma-địa, thì nên khiến họ dựng lập đạo tràng như thế nào để xa lìa các Ma-sự, được chẳng lui sụt nơi tâm Bồ-đề.

Bấy giờ, Thế Tôn ở trong Chúng khen ngợi A-nan :

- Lành thay ! Lành thay ! Như ngươi hỏi về sự an lập đạo tràng, cứu giúp chúng sanh chìm đắm trong đời Mạt-pháp, ngươi hãy lắng nghe, Ta sẽ vì ngươi mà nói.

A-nan và Đại Chúng kính vâng lời dạy của Phật.

Phật bảo A-nan :

- Ngươi thường nghe Ta khai giảng ba nghĩa quyết định của sự tu hành trong Luật-tạng, ấy là : Nhiếp tâm thành Giới, từ Giới sanh Định, từ Định phát Huệ, gọi là ba Vô-lậu-học.

- A-nan ! Làm sao nhiếp tâm gọi là Giới ?

- Nếu chúng sanh lục đạo trong thế giới, tâm chẳng dâm dục, thì chẳng theo dòng sanh tử tương tục.

- Người tu Chánh-định, cốt để ra khỏi trần lao, nếu tâm dâm dục chẳng trừ thì chẳng thể ra khỏi, dẫu cho có nhiều trí thiền định hiện tiền, nếu chẳng đoạn dâm, ắt phải lạc vào Ma-đạo, hạng trên thành Ma-vương, hạng giữa thành Ma-dân, hạng dưới thành Ma-nữ. Bọn ma kia cũng có đồ chúng, mỗi mỗi tự xưng đã thành đạo vô thượng, sau khi ta diệt độ, trong đời Mạt-pháp, bọn Ma-dân này sôi nổi trên thế gian, thịnh hành tham dâm, tự xưng là Thiện-tri-thức, khiến chúng sanh sa vào hầm ái kiến, lạc mất đạo Bồ-đề.

- Ngươi dạy người đời tu Tam-ma-địa, trước nhất phải dứt dâm dục, ấy là lời dạy bảo rõ ràng trong sạch, gọi là nghĩa quyết định thứ nhất của chư Phật.

- A-nan ! Nếu chẳng dứt dâm dục mà tu thiền định, cũng như nấu cát mà muốn thành cơm, dù trải qua trăm ngàn kiếp, cũng chỉ là cát nóng. Tại sao ? Vì cát vốn chẳng phải là cơm vậy. Nếu lấy thân dâm mà cầu Diệu-quả của Phật, dẫu được khai ngộ cũng chỉ là gốc dâm; cội gốc đã thành dâm thì phải trôi lăn trong tam ác đạo, chẳng thể thoát khỏi, vậy làm sao có thể tu chứng đạo Niết-bàn ! Ắt phải khiến thân tâm đều dứt hết sự dâm, cả cái dứt cũng chẳng có, thì mới có thể hy vọng chứng quả Bồ-đề. Như lời Ta thuyết gọi là Phật thuyết, chẳng thuyết như thế là Tà-ma thuyết.

- A-nan ! Lại chúng sanh lục đạo trong thế giới, nếu tâm chẳng sát hại thì chẳng theo dòng sanh tử tương tục.

- Người tu Chánh-định, cốt để ra khỏi trần lao, nếu tâm sát hại chẳng trừ, thì chẳng thể ra khỏi, dẫu có nhiều trí thiền định hiện tiền, mà chẳng dứt sát hại, ắt phải lạc vào Quỷ-thần-đạo. Hạng trên thành đại lực quỷ, hạng giữa thành phi hành dạ-xoa và các loại quỷ soái, hạng dưới thành địa hành la-sát. Các loài quỷ thần kia cũng có đồ chúng, mỗi mỗi tự xưng đã thành đạo vô thượng, sau khi Ta diệt độ, trong đời Mạt-pháp, loại quỷ thần này sôi nổi trên thế gian, tự nói ăn thịt cũng được đạo Bồ-đề.

- A-nan ! Sở dĩ Ta tạm cho hàng Tỳ-kheo ăn Ngũ Tịnh Nhục, việc này đều do thần lực của Ta hóathành, vốn chẳng có sinh mạng. Vì xứ Bà-la-môn đất đai phần nhiều ẩm ướt, lại thêm cát đá, rau cỏ chẳng sanh, nên Ta dùng sức đại bi tạm thời hóa ra, giả danh là thịt, cho các ngươi được ăn. Nhưng tiếc thay, sau khi Như-lai diệt độ, người mang tên Phật-tử lại ăn thịt chúng sanh !

- Các ngươi nên biết, những người ăn thịt, dù được khai ngộ tựa như Tam-ma-địa, nhưng đều là giống La-sát, khi hết phước báu, ắt phải chìm đắm trong biển khổ, chẳng phải đệ tử Phật. Những người như thế, giết nhau nuốt nhau, ăn nhau không thôi, làm sao được ra khỏi luân hồi !

- Ngươi dạy người đời tu Tam-ma-địa, phải dứt trừ sát sanh, ấy là lời dạy rõ ràng trong sạch, gọi là nghĩa quyết định thứ hai của chư Phật !

- A-nan ! Nếu chẳng dứt sát hại mà tu thiền định, cũng như có người tự bịt lỗ tai, lớn tiếng kêu to mà mong người khác chẳng nghe, bọn này gọi là muốn giấu mà càng lộ. Hàng Tỳ-kheo trong sạch và chư Bồ-tát, đi trong đường tẻ còn chẳng dẫm trên cỏ, huống là nhổ cỏ. Làm sao người có lòng đại bi lại ăn thịt chúng sanh ?

- Nếu Tỳ-kheo chẳng mặc tơ lụa, chẳng mang giày dép da cừu, chẳng ăn những tô lạc đề hồ... thuộc bộ phận thân thể của chúng sanh, thì Tỳ-kheo này nơi thế gian gọi là chơn giải thoát, khi nợ xưa trả sạch thì chẳng sanh vào Tam-giới. Tại sao ? Vì dùng những bộ phận thân thể của chúng sanh để ăn mặc, thì phải trả nợ chúng sanh. Như người ăn lúa thóc từ đất mọc thì chân chẳng lìa đất. Cũng vậy, người mà đối với thân thể của chúng sanh đều chẳng ăn chẳng mặc, Ta nói người này là chơn giải thoát. Như lời Ta thuyết, gọi là Phật thuyết chẳng thuyết như thế tức là Ma thuyết.

- A-nan ! Lại như chúng sanh lục đạo trong thế giới, tâm chẳng trộm cắp thì chẳng theo dòng sanh tử tương tục.

- Người tu Chánh-định, cốt ra khỏi trần lao, nếu tâm trộm cắp chẳng trừ thì chẳng thể ra khỏi, dẫu có nhiều trí thiền định hiện tiền, mà chẳng dứt tâm trộm cắp, ắt phải lạc vào Tà-đạo. Hạng trên thành Tinh-linh, hạng giữa thành Yêu-mị, hạng dưới thành kẻ Tà. Bọn Tà-đạo kia cũng có đồ chúng mỗi mỗi tự xưng đã thành đạo vô thượng. Sau khi Ta diệt độ, trong đời Mạt-pháp, bọn Tà-ma kia sôi nổi trong thế gian, che giấu sự gian dối, tự xưng là Thiện-tri-thức, đã được pháp Thượng-nhân, lừa gạt kẻ không biết, khiến lạc mất Bản-tâm. Hễ họ đến chỗ nào thì người chỗ đó gia tài bị tiêu tan.

- Ta dạy các Tỳ-kheo tùy nghi khất thực, xả bỏ lòng tham, mới thành đạo Bồ-đề. Các Tỳ-kheo chẳng tự nấu ăn, huyễn thân tạm gởi nơi Tam-giới, thị hiện một đời sanh tử, đi rồi chẳng về (giải thoát sanh tử thì ra khỏi luân hồi, chẳng về Tam-giới). Tại sao bọn giặc mặc áo đạo Phật, giả mạo Tỳ-kheo buôn bán Như-lai, tạo đủ thứ nghiệp đều nói là Phật pháp ! Kỳ thật, họ chẳng phải người chánh thức xuất gia, có thọ giới Tỳ-kheo của đạo Tiểu-thừa. Do vậy, khiến vô số chúng sanh mắc phải nghi lầm, đọa địa ngục A-tỳ. Sau khi ta diệt độ, nếu có Tỳ-kheo phát tâm quyết định tu Tam-ma-địa, ở trước hình tượng Phật đốt một lóng tay hay đốt một liều trên thân, Ta nói người ấy, những nợ xưa từ vô thỉ đều sẽ được dần dần trả hết, từ giã thế gian, thoát hẳn phiền não, dù chưa được ngộ đạo Vô-thượng, nhưng đối với Phật-pháp đã có lòng tin quyết định. Nếu chẳng làm cái nhân xả thân nhỏ mọn này, thì dẫu thành vô vi, ắt phải còn sanh cõi người, trả các nợ xưa, như quả báo Mã Mạch của Ta chẳng có sai khác (Mã Mạch : lúa mì để cho ngựa ăn).

- Ngươi dạy người đời tu Tam-ma-địa, phải dứt tâm trộm cắp, ấy là lời dạy rõ ràng trong sạch, gọi là nghĩa quyết định thứ ba của chư Phật.

- A-nan ! Nếu chẳng dứt tâm trộm cắp, mà tu Thiền định, cũng như người lấy nước rót vào bình chảy, mong cho đầy bình, dù trải qua vô số kiếp, cũng không thể đầy.

- Nếu hàng Tỳ-kheo ngoài y bát ra, mảy may không tích trữ, xin ăn có dư, bố thí cho kẻ đói, giữa nơi nhóm họp, chắp tay đảnh lễ Chúng, có người đánh mắng, đồng như khen ngợi, quyết định xả bỏ thân tâm, với tất cả chúng sanh cộng chung một da thịt xương máu. Chẳng lấy thuyết bất liễu nghĩa của Như-lai làm chỗ hiểu của mình, rồi dạy lầm mà hại cho kẻ sơ học, thì Phật ấn chứng người ấy được Chơn-tam-muội. Như lời Ta thuyết gọi là Phật thuyết, chẳng thuyết như thế tức Tà-ma thuyết.

LƯỢC GIẢI

Kinh Hưng Khởi Hành nói :

Vua nước Tùy La Nhiên thỉnh Phật và 500 vị Tỳ-kheo về nước Kiết-hạ, Vua đích thân cúng dường vừa được sáu ngày thì bị Thiên-ma mê hoặc, khiến trở về cung Vua chìm đắm ngũ dục, quên sự cúng dường. Các Tỳ-kheo phải đi khất thực, mà liên tiếp ba ngày đều chẳng khất được món ăn nào cả.

Lúc đó, có người nuôi ngựa nói với các Tỳ-kheo rằng : "Nay con có mã mạch, quí Thầy ăn được chăng ? Nếu ăn được thì con sẽ cúng dường". Từ đó ăn mã mạch cho đến mãn hạ.

Phật bảo : "Trong quá khứ đời Phật Tỳ-bà-diếp, Ta làm Bà-la-môn, thông đạt tứ Vệ-đà kinh, có dạy 500 đồng tử trên núi Phạn-chí. Khi ấy, Vua thiết hội cúng dường Phật Tỳ-bà-diếp, có một Tỳ-kheo mắc bệnh chẳng đi được. Phật và Đại Chúng ăn xong, rồi thỉnh thực cho Tỳ-kheo mắc bệnh. Khi đi ngang núi Phạn-chí, Bà-la-môn ấy ngửi được mùi cơm rất thơm, nói rằng : "Bọn Sa-môn trọc đầu nên ăn mã mạch, chẳng nên ăn cơm này".

Các đồng tử cũng nói : "Bọn thầy trò này phải ăn mã mạch mới đúng" !

Bà-la-môn thuở đó tức là Ta, 500 đồng tử tức 500 Tỳ-kheo theo Ta kiết hạ đây; Tỳ-kheo mắc bệnh tức là Di-lặc. Do nhân duyên này, vào địa ngục trải qua vô số kiếp, nay dù đã đắc đạo, vẫn còn phải chịu quả báo, ăn mã mạch ba tháng.

Theo nhân quả kể trên, Phật đã từng xả máu thịt cho diều hâu ăn, xả thân mạng cho cọp ăn, mà còn phải chịu quả báo mã mạch. Vậy đâu thể do đốt tay và đốt liều trên thân mà trả hết nợ xưa từ vô thỉ được !

Sự đốt tay, đốt liều là để tăng cường lòng Chánh-tín, quên thân vì đạo. Cần phải quên thân hành đạo, cuối cùng mới tự nhiên trả hết nợ xưa, trọn thành Phật đạo.

*****

- A-nan ! Chúng sanh lục đạo trên thế giới, dù nơi thân tâm chẳng còn Sát, Đạo, Dâm, nếu mắc phải đại vọng ngữ, thì với Tam-ma-địa chẳng được trong sạch, thành giống ma ái kiến, lạc mất giống Phật. Chưa đắc quả nói đã đắc, chưa chứng ngộ nói đã chứng; như bảo người khác rằng : "Nay tôi đã được quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm, A-la-hán, Bích-chi-phật, cho đến Bồ-tát Thập Địa; hoặc vì cầu sự thù thắng bậc nhất nơi thế gian, hoặc vì tham sự cúng dường, bảo họ lễ sám. Bọn Nhất-xiển-đề này tiêu diệt giống Phật, như người lấy dao chặt cây Đa-la (cây này hễ gãy thì chẳng sống được nữa), Phật thọ ký người ấy mất hẳn thiện căn, chẳng có Chánh-kiến, chìm đắm trong tam ác đạo, chẳng thể thành tựu Chánh-định.

- Ta phó chúc các Bồ-tát và A-la-hán, sau khi Ta diệt độ, nên Ứng-thân trong thời Mạt-pháp, hiện đủ thứ hình tướng, cứu độ chúng sanh bị luân chuyển. Hoặc làm Sa-môn, Bạch-y Cư-sĩ, Vua, Chúa, Quan lại, đồng nam, đồng nữ, như thế cho đến người dâm nữ, quả phụ, kẻ gian dối, trộm cắp, đồ tể v.v... cộng sự với họ, khen ngợi Phật-thừa, khiến thân tâm họ được vào Tam-ma-địa. Trọn chẳng tự nói ta là Chơn Bồ-tát, chơn A-la-hán, tiết lộ mật nhân của Phật để khinh kẻ hậu học, chỉ trừ đến khi lâm chung càng có sự phó chúc cho người nối pháp làm sao người ấy lại mê hoặc chúng sanh, tự tạo tội, thành đại vọng ngữ, để vào ngục A-tỳ !

- Ngươi dạy người đời tu Tam-ma-địa, sau cùng phải dứt trừ đại vọng ngữ, ấy là lời dạy rõ ràng trong sạch, gọi là nghĩa quyết định thứ tư của chư Phật.

- A-nan ! Nếu chẳng dứt đại vọng ngữ, cũng như lấy phẩn người khắc hình cây Chiên-đàn, muốn được mùi thơm thì chẳng có chỗ đúng.

- Ta dạy Tỳ-kheo Trực-tâm là Đạo-tràng, tất cả hạnh nơi tứ oai nghi còn chẳng giả dối, làm sao lại tự xưng đã được pháp Thượng-nhân, ví như người nghèo vọng xưng là Vua chỉ tự cầu tội chém, huống là trộm cắp danh hiệu của Pháp-vương ? Cần phải biết, nhân địa chẳng chơn thì chiêu quả quanh co, nếu như thế mà cầu đạo Bồ-đề, cũng như người muốn tự cắn rốn mình, đâu thể thành tựu !

- Nếu các Tỳ-kheo, tâm ngay thẳng như dây đàn, tất cả chơn thật, vào Tam-ma-địa, hẳn không kẹt Ma-sự, Ta ấn chứng người ấy thành tựu Bồ-tát vô thượng tri giác. Như lời Ta thuyết gọi là Phật thuyết, chẳng thuyết như thế tức Tà-ma thuyết. 

Tác giả bài viết: thichdaophat

Nguồn tin: Tông Phong Tàng Thư

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn