09:45 EDT Thứ tư, 19/06/2019

Giới Thiệu

Hoài niệm ân sư

I. THỜI THƠ ẤU :        Sư hiệu DUY LỰC, tự GIÁC KHAI, thế danh LA DŨ sanh ngày 05 tháng 05 năm 1923, tại làng Long Tuyền (Bình Thủy), Tỉnh Cần Thơ (VN). Cha tên La Xương và Mẹ tên là Lưu Thị làm nghề nông, nguyên là người làng Long Yên, huyện Phong Thuận phủ Triều Châu, tỉnh...

Danh mục chính

Liên Kết Trang

TS DUC SON
TS NGUYET KHE
HUE NANG

Trang nhất » Tông Phong Tàng Thư » Kinh » Kinh Lăng Nghiêm

Kinh Lăng Nghiêm - Quyển 4

Thứ bảy - 06/04/2013 14:13 Xem: 917
quyển 4 phần đầu
41. Đệ Nhất Nghĩa Đế

Lúc bấy giờ, Phú-lâu-na ở trong Chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo tay phải, quỳ gối chân phải, chắp tay cung kính bạch Phật rằng :

+ Thế Tôn có oai đức lớn, khéo vì chúng sanh hiển bày Đệ-nhất-nghĩa-đế của Như-lai. Thế Tôn thường khen con là bậc nhất trong những người thuyết Pháp, mà nay con nghe Pháp-âm nhiệm mầu của Như-lai, cũng như người điếc, cách xa trăm bước mà nghe tiếng muỗi bay, vốn chẳng thể thấy, huống là được nghe ! Phật dù chỉ rõ, khiến con dứt trừ lỗi lầm, nhưng con còn chưa thấu suốt chỗ chẳng nghi hoặc của nghĩa này.

+ Thế Tôn, hàng hữu lậu như A-nan, dù được khai ngộ, nhưng chưa dứt tập khí phiền não, còn chúng con là bậc vô lậu trong Hội này, nay nghe Pháp-âm của Như-lai còn mắc phải những điều nghi ngờ.

+ Thế Tôn, nếu tất cả các thứ Căn, Trần, Ấm, Xứ, Giới v.v... của thế gian đều là Như-lai-tạng, bản tánh vốn trong sạch, sao lại bỗng sanh các tướng hữu vi như núi sông, đất đai, thành rồi hoại, hoại rồi thành, thành hoại chẳng ngừng ?

+ Lại Như-lai nói Địa, Thủy, Hỏa, Phong, bản tánh viên dung, cùng khắp Pháp-giới, trạm nhiên thường trụ. Thế Tôn, nếu tánh Địa cùng khắp, thì làm sao dung nạp được Thủy ? Nếu tánh Thủy cùng khắp thì Hỏa chẳng thể sanh; sao lại nói hai tánh Thủy và Hỏa đều cùng khắp hư không, chẳng đoạt mất nhau ?

+ Thế Tôn, tánh Địa thì ngăn ngại, tánh Không thì trống rỗng, làm sao hai tánh ấy đều cùng khắp Pháp-giới ? Nay con chẳng biết nghĩa này thế nào, xin Phật từ bi, khai mở lòng mê muội của con và Đại Chúng.

Nói xong, năm vóc gieo sát đất, kính mong lời dạy vôthượng của Như-lai.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo Phú-lâu-na và hàng A-la-hán lậu tận vô học trong Hội rằng :

- Hôm nay, Như-lai vì cả Chúng trong Hội này hiển bày tánh chơn-thắng-nghĩa trong thắng-nghĩa, khiến hàng định tánh Thanh-văn và tất cả A-la-hán chưa được nhị Không (nhân ngã không và pháp ngã không), phát tâm hướng về Thượng-thừa, đều được chỗ tu hành chơn chánh, thiết thực chẳng xao động của cảnh giới tịch diệt Nhất-thừa, các ngươi hãy chú ý nghe.

Phú-lâu-na và Đại Chúng kính vâng Pháp-âm của Phật, yên lặng ngồi nghe.

Phật bảo :

- Phú-lâu-na, như lời ngươi nói, bản tánh trong sạch, sao lại bỗng sanh núi sông đất đai. Ngươi chẳng thường nghe Như-lai dạy rằng : Tánh-giác diệu minh, Bản-giác minh diệu hay sao ?

LƯỢC GIẢI

Tức Diệu thường minh mà chẳng lập sở minh, cũng chẳng phải bất minh, nên nói Diệu-minh, tức minh thường diệu, mà chẳng bị kẹt nơi minh, nên nói Minh-diệu. Nếu chấp thật cho là Giác-minh, bèn lọt vào tình thức, thành ra lìa giác chẳng minh, thì đâu thể nói là Diệu, nên Kinh nói : "Do Giác-minh thành lỗi lầm" vậy.

- Bạch Thế Tôn, vâng ạ, con thường nghe Phật khai-thị nghĩa này.

Phật bảo :

- Ngươi nói giác minh là do tánh minh được gọi là giác; hay là cái giác bất minh, gọi là minh giác ?

Phú-lâu-na nói :

- Nếu cái bất minh này gọi là giác, thì chẳng có sở minh.

Phật bảo :

- Nếu chẳng có sở minh thì chẳng có minh giác, có sở chẳng phải là giác, không sở chẳng phải là minh, chẳng minh lại chẳng phải tánh trạm nhiên sáng tỏ của Bản-giác. Vì Tánh-giác ắt minh, vọng cho là minh giác, Bổn-giác chẳng phải sở minh, do chấp sự minh nên lập sở minh, sở minh đã vọng lập thì sanh cái năng minh hư vọng của ngươi.

- Ở trong chẳng đồng dị, vọng chấp thành dị, khác với cái dị này, do sự dị mà lập sự đồng, tướng đồng dị đã sanh, từ đó lại lập ra cái chẳng đồng chẳng dị. Nhiễu loạn như thế, đối đãi nhau sanh ra mỏi mệt, mỏi lâu thành trần, tự hỗn tạp lẫn nhau, do đó sanh ra trần lao phiền não, khởi dậy thành thế giới, tịch lặng thành hư không; hư không là đồng, thế giới là dị, do đồng dị lập ra chẳng đồng chẳng dị, ấy là pháp hữu vi, cái vốn chẳng đồng dị của Bản-giác, mới thật là Pháp-vô-vi.

- Bản-giác tánh Không, chẳng minh chẳng vô minh, tùy theo nghiệp thức biến hiện nên vô minh bắt đầu; một niệm vô minh bỗng khởi, thì Bản-giác lìa tánh Không mà sanh vọng minh, tánh Không cũng lìa Bản-giác mà sanh ám muội. Bản-giác sanh vọng minh thì phát ra Thức, chỗ trong lặng chẳng lay động của Thức-tinh (nguồn gốc của thức) tức là Thủy, tánh "Không" sanh ám muội, kết tụ thành sắc, tức là Địa (trái đất), Địa và Thủy nhiễu loạn nhau thành Phong (Bầu khí quyển bao phủ trái đất). Vì tánh "Không" bị ám muội, cố chấp cái năng minh thành chướng ngại, nên vọng cho Bản-giác là sở minh, năng sở nhiễu loạn, nên vọng có tánh biến hóa của Hỏa, ngọn Hỏa xông lên, nên có hơi Thủy khắp cả mười phương hư không. Hỏa bốc lên, Thủy chảy xuống, giao lộn vọng lập thì Thủy ướt thành biển cả, đất khô thành lục địa. Do nghĩa này, nên trong biển cả Hỏa thường phun lên, trong lục địa sông ngòi thường chảy. Thế Thủy kém thế Hỏa thì kết thành núi, nên khi đập đá núi thì có tia lửa; thế Địa kém thế Thủy thì mọc lên thành cỏ cây, nên đốt cỏ cây thì thành đất, vắt ra thì có nước. Tứ đại giao lộn lẫn nhau vọng sanh nhân quả, do nhân duyên này nên thế giới tương tục.

LƯỢC GIẢI

Theo lý thuyết Ngũ-hành là sáng lập từ Trung-quốc, người Ấn-độ thì chẳng biết học thuyết này. Nên các Kinh Phật chỉ nói tứ Đại, ngũ Uẩn, lục Nhập, thập nhị Xứ, thập bát Giới, cho đến thất Đại, đoạn này từ tiếng Phạn dịch sang tiếng Hán, mà dịch giả mượn Ngũ-hành để sáng tỏ nghĩa Kinh, lý thuyết Ngũ-hành người xưa còn có thể hiểu được, đời nay thì ít người thấu suốt. Cho nên độc giả đời nay cảm thấy rất khó hiểu, nếu không hiểu được thì đánh mất tác dụng của lời Kinh. Vì Phật thuyết Pháp, hay dùng những sự vật của chúng sanh đã hiểu biết, để chứng tỏ tri kiến của chúng sanh chẳng đúng. Do đó, nên chúng tôi lược bỏ phần ngũ hành, chỉ dựa theo tứ Đại mà dịch đoạn Kinh này, xin độc giả từ bi hoan hỷ cho.

*****

42. Khai Thị Căn Bản Vô Minh.

- Lại nữa, Phú-lâu-na, cái minh hư vọng này chẳng phải gì khác, do giác minh thành lỗi lầm; sở minh đã vọng lập, thành lý minh có ngằn mé. Vì vậy, nên nghe chẳng ra ngoài tiếng, thấy chẳng vượt khỏi sắc, sáu thứ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp đã vọng lập, do đó chia ra Kiến, Văn, Giác, Tri. Cộng nghiệp ràng buộc lẫn nhau mà có hợp, ly, thành, hóa; do kiến chấp của sở minh nên sanh khởi sắc tướng, do năng minh của kiến chấp thì thành tư tưởng, ý kiến khác với mình thì thành ghét, tư tưởng đồng với mình thì thành yêu, gieo cái yêu thành hạt giống, thu nạp tư tưởng thành cái thai, giao cấu phát sanh, hấp dẫn cộng nghiệp, nên có nhân duyên sanh ra bào thai.

- Các loài thai sanh, noãn sanh, thấp sanh, hoá sanh, tùy theo sự cảm ứng mà thành : Noãn do tưởng niệm mà sanh, Thai do ái tình mà có, Thấp-sanh do hợp mà cảm ứng, Hóa-sanh do tách ly mà hiện. Tình, tưởng, hợp, ly, thay đổi lẫn nhau, các loài thọ nghiệp theo đó mà thăng trầm, do nhân duyên này, nên chúng sanh tương tục.

- Phú-lâu-na, do tư tưởng thương yêu liên kết thành nghiệp, yêu mãi không rời thì những cha mẹ con cháu trong thế gian sanh nhau chẳng ngừng, ấy đều từ gốc Dục Tham sanh khởi.

- Lòng tham ái giúp nhau tăng trưởng, tham mãi không thôi thì các loại thai, noãn, thấp, hóa trong thế gian, tùy sức mạnh yếu, ăn nuốt lẫn nhau, ấy đều từ gốc Sát Tham sanh khởi.

- Người ăn thịt dê, dê chết làm người, người chết làm dê, như vậy cho đến mười loại chúng sanh, chết sống sống chết, ăn nuốt lẫn nhau, ác nghiệp lan tràn cùng tột đời vị lai, ấy đều từ gốc Đạo Tham (trộm cắp) sanh khởi.

- Ngươi nợ mạng ta, ta trả nợ ngươi, do nhân duyên này, trải qua trăm ngàn kiếp, thường ở trong dòng sanh tử; ngươi yêu tâm ta, ta ưa sắc ngươi, do nhân duyên này trải qua trăm ngàn kiếp, thường ở trong dòng ràng buộc, ấy đều từ gốc Sát, Đạo, Dâm sanh khởi. Do nhân duyên này nên Nghiệp-quả tương tục.

- Phú-lâu-na, ba thứ điên đảo kể trên tương tục như vậy, đều do sự lỗi lầm của Giác-minh cho là có tánh liễu tri của năng minh rồi biến hiện sắc tướng, từ vọng kiến đó sanh khởi các tướng hữu vi như núi sông đất đai, theo thứ tự dời đổi, vì hư vọng này nên xoay chuyển chẳng ngừng.

Phú-lâu-na nói :

- Thế Tôn ! Nếu Diệu-giác này vốn nhiệm mầu sáng tỏ, cùng với tâm Như-lai chẳng thêm, chẳng bớt, khi không bỗng sanh các tướng hữu vi như núi sông, đất đai; nay Như-lai đã chứng Diệu Giác, làm sao núi sông đất đai và các tập khí hữu lậu còn được sanh trở lại ?

Phật bảo Phú-lâu-na :

- Ví như người mê ở một xóm làng, nhận lầm phương Nam thành phương Bắc, vậy sự mê lầm này từ mê ra hay từ ngộ ra ?

Phú-lâu-na đáp :

- Người mê như vậy chẳng từ mê ra, cũng chẳng từ ngộ ra ? Tại sao ? Mê vốn chẳng gốc, làm sao từ mê ra ? Ngộ chẳng sanh mê, sao nói từ ngộ ra ?

Phật nói :

- Người mê kia đang trong lúc mê, bỗng có người ngộ chỉ thị cho ngộ, Phú-lâu-na, ý ngươi thế nào ? Người ấy dẫu mê, đối với xóm làng này, còn mê lại nữa chăng ?

- Bạch Thế Tôn, không ạ !

- Phú-lâu-na, mười phương Như-lai cũng như vậy, sự mê này vốn chẳng có gốc, tánh rốt cuộc là không, xưa vốn chẳng mê, do vọng chấp nên tựa như có mê có giác, giác được cái mê thì mê liền diệt, giác chẳng sanh mê. Cũng như người nhặm thấy hoa đốm trên không, nếu trừ được bệnh nhặm thì hoa đốm nơi không liền diệt. Bỗng có người ngu ở chỗ hư không mà hoa đốm đã diệt kia, mong đợi hoa đốm sanh nữa, ngươi xét người này là ngu hay trí ?

Phú-lâu-na đáp :

- Hư không vốn chẳng có hoa đốm, vọng thấy có sanh diệt, thấy hoa đốm diệt đã là điên đảo rồi, lại còn muốn hoa đốm sanh nữa, thì thật là điên dại, làm sao còn gọi người điên như vậy là ngu hay trí !

Phật bảo :

- Theo như ngươi hiểu, sao lại còn hỏi Diệu Giác của chư Phật lại sanh núi sông đất đai nữa ! Cũng như quặng vàng, đất cát lộn với vàng ròng, khi quặng đã luyện thành vàng ròng thì chẳng trở thành quặng nữa; như cây đã đốt thành tro, thì chẳng trở lại thành cây nữa. Bồ-đề Niết-bàn của chư Phật cũng như vậy.

- Phú-lâu-na, ngươi còn hỏi về bản tánh viên dung, cùng khắp Pháp-giới của Địa, Thủy, Hỏa, Phong nghi rằng tánh Thủy và Hỏa sao chẳng đoạt mất nhau, và hỏi sao hư không và tánh Địa đều khắp Pháp-giới, lẽ ra chẳng dung nạp nhau.

- Phú-lâu-na, ví như hư không chẳng phải các tướng, cũng chẳng ngăn ngại các tướng phát huy. Tại sao ? Phú-lâu-na, ở nơi hư không, mặt trời chiếu thì sáng, mây che thì tối, gió thổi thì động, trời tạnh thì trong, sương mù thì đục, bụi nổi thì mờ, nước lặng thì lóng lánh, ý ngươi thế nào ? Các tướng hữu vi khác nhau như vậy, là tự sanh hay từ hư không ra ? Phú-lâu-na, nếu mỗi mỗi tự sanh, khi lúc mặt trời chiếu, đã là mặt trời chiếu sáng, thì mười phương hư không đều thành màu sắc của mặt trời, tại sao lại còn thấy mặt trời trên không ? Nếu hư không tự sáng, thì hư không phải tự chiếu sáng, tại sao lúc giữa đêm mây mù lại chẳng thấy sáng ? Nên biết cái sáng như vậy chẳng phải mặt trời, chẳng phải hư không, cũng chẳng ngoài mặt trời và hư không. Xét các tướng ấy vốn là hư vọng, chẳng thể chỉ bày, cũng như muốn hoa đốm trên không kết thành quả hư không, làm sao còn hỏi cái nghĩa chẳng đoạt mất nhau ? Diệu-tâm sáng tỏ, vốn chẳng phải thủy, hỏa, tại sao lại còn hỏi về nghĩa chẳng dung nạp nhau ?

- Tánh sáng tỏ của Diệu-tâm cũng vậy, nếu ngươi phát minh cái hư không thì hư không hiện ra; địa, thủy, hỏa, phong mỗi mỗi phát minh thì mỗi mỗi hiện ra, nếu cùng phát minh thì cùng hiện ra.

- Thế nào là cùng hiện ? Phú-lâu-na, như trong một dòng nước, hiện ra bóng mặt trời, hai người cùng xem bóng đó, rồi người đi phương Đông, người đi phương Tây, mỗi người đều thấy mặt trời theo mình, một cái đi về phương Đông, một cái đi về phương Tây, chẳng có nhất định. Không nên hỏi rằng : Mặt trời là một, sao lại mỗi cái đi theo mỗi người ? Bóng mặt trời trong nước đã thành hai, tại sao trên trời chỉ có một ? Sự hư vọng quanh lộn như thế chẳng có căn cứ.

- Phú-lâu-na, ngươi cho tướng Sắc, Không đoạt mất lẫn nhau nơi Như-lai-tạng, thì Như-lai-tạng tùy theo sắc không cùng khắp Pháp-giới, nên ở trong đó, gió thổi thì động, hư không thì lặng, mặt trời thì sáng, mây mù thì tối, chúng sanh mê muội, trái Giác tánh, hợp cảnh Trần, phát khởi trần lao, nên có tướng thế gian.

- Ta dùng tánh chẳng sanh diệt của Diệu-tâm sáng tỏ hợp với Như-lai-tạng, thì Như-lai-tạng chỉ duy nhất một Diệu-tâm sáng tỏ, tròn đầy chiếu khắp Pháp-giới, nên ở trong đó, một là 'vô lượng', vô lượng là một, trong nhỏ hiện ra lớn, trong lớn hiện ra nhỏ, đạo tràng chẳng động mà khắp mười phương thế giới, thân thể bao hàm vô tận hư không, nơi đầu một mảy lông hiện ra cõi Phật, ngồi trong vi trần chuyển Đại-pháp-luân, nghịch cảnh Trần, hợp Giác tánh, nên hiện ra tánh Chơn-như sáng tỏ của Diệu-tâm.

- Cái Diệu-tâm sáng tỏ này, phi tâm, phi không, phi địa, thủy, hỏa, phong; phi nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; phi sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; phi nhãn thức giới cho đến phi ý thức giới; phi minh, phi vô minh, phi minh vô minh tận, như thế cho đến phi lão phi tử, phi lão tử tận; phi khổ, tập, diệt, đạo; phi trí, phi đắc, phi bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí huệ; phi đến bờ bên kia, cho đến phi Như-lai, phi Ứng Cúng, phi Chánh Biến Tri; phi Đại Niết-bàn, phi thường đức, lạc đức, ngã đức, tịnh đức, (tứ đức của Niết-bàn), cho đến các pháp thế gian và xuất thế gian đều phi cả.

- Cái Diệu-tâm sáng tỏ này tức tâm, tức không, tức địa, thủy, hỏa, phong; tức nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; tức sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; tức nhãn thức giới, cho đến tức ý thức giới; tức minh, tức vô minh, tức minh vô minh tận; cho đến tức lão, tức tử, tức lão tữ tận, tức khổ, tập, diệt, đạo; tức trí, tức đắc; tức bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí huệ; tức đến bờ bên kia, cho đến tức Như-lai, tức Ứng Cúng, tức Chánh Biến Tri; tức Đại Niết-bàn, tức thường đức, lạc đức, ngã đức, tịnh đức; cho đến các pháp thế gian và xuất thế gian đều tức như thế cả.

- Cái Diệu-tâm sáng tỏ này lìa Tức lìa Phi, cũng Tức cũng Phi Tức, tại sao chúng sanh tam giới của thế gian và các hàng Thanh-văn, Duyên-giác của xuất thế gian muốn dùng cái tâm sở tri để suy lường Vô Thượng Bồ-đề của Như-lai; muốn dùng lời nói của thế gian để nhập Tri Kiến Phật, đâu có thể được !

- Ví như những cây đàn : cầm sắt, tỳ bà, dù có diệu âm, nếu chẳng có sự khéo léo của ngón tay, thì diệu âm chẳng thể phát ra. Cũng vậy, cái Diệu-tâm chơn thật của ngươi và chúng sanh mỗi mỗi vốn sẵn đầy đủ. Nhưng nơi ta khi búng tay thì hải ấn phát ra ánh sáng, (hải ấn là : lâu đài bỗng hiện trên mặt biển, dụ cho sức dụng vô biên của Tự-tánh tự hiện), còn nơi các ngươi, vừa móng tâm thì trần lao đã khởi; ấy là do chẳng cầu vô thượng Bồ-đề, ham thích Tiểu-thừa, được ít cho là đủ.

Phú-lâu-na nói :

- Diệu-tâm sáng tỏ của con và Như-lai đều viên mãn không hai. Nơi con, vì xưa kia mắc phải vọng tưởng từ vô thỉ, chịu luân hồi đã lâu, nay dù chứng được Thánh-quả, nhưng chưa đến chỗ rốt ráo. Nơi Thế Tôn thì tất cả vọng tưởng đều diệt, chỉ Diệu-tâm chơn thường hiện hành. Vậy xin hỏi Như-lai : Tất cả chúng sanh vì sao có vọng, tự che khuất Diệu-tâm, cam chịu chìm đắm ?

Phật bảo Phú-lâu-na :

- Ngươi dù trừ được lòng nghi, nhưng còn có mê hoặc chưa dứt sạch, nay Ta đem những việc của thế gian hỏi ngươi. Ngươi há chẳng nghe trong thành Thất-la-phiệt, có ông Diễn-nhã-đạt-đa, buổi sáng lấy gương soi mặt, nhìn thấy mặt mày, bỗng ưa cái đầu trong gương, rồi tự trách đầu mình sao chẳng tự thấy mặt mũi, cho là yêu mị, khi không phát điên bỏ chạy. Ý ngươi thế nào ? Người ấy vì sao khi không bỏ chạy ?

Phú-lâu-na đáp :

- Người ấy tâm điên, chứ chẳng do gì khác.

Phật nói :

- Diệu-tâm vốn tròn đầy sáng tỏ, đã gọi là vọng, làm sao có nhân ? Nếu có cái nhân, sao còn gọi là vọng ? Chỉ do các vọng tưởng xoay vần, tự làm nhân cho nhau, từ mê thêm mê, trải qua vô lượng kiếp, dù được Phật phát minh Đại-nghĩa, còn chẳng chịu quay về. Cái nhân mê như vậy, do mê tự có, biết cái mê vô nhân thì vọng chẳng chỗ dựa; sanh còn chẳng có, lấy gì để diệt ?

- Người đắc đạo Bồ-đề, như người tỉnh giấc nói việc trong chiêm bao; tâm dù rõ ràng, làm sao lấy được những vật trong chiêm bao ra ? Huống là vô nhân, vốn chẳng có gì ? Như Diễn-nhã-đạt-đa, đâu có nhân duyên gì mà tự sợ đầu mình bỏ chạy. Nếu bỗng nhiên hết điên, cái đầu đâu phải từ ngoài mà được; dù chưa hết điên, đầu cũng chẳng mất. Phú-lâu-na, tánh vọng như thế, làm sao có nhân ?

- Nếu ngươi chẳng duyên theo thế gian, nghiệp quả, chúng sanh, ba thứ phân biệt này xoay chuyển liên tục, ba duyên đã diệt thì ba nhân chẳng sanh, tánh điên của Diễn-nhã-đạt-đa trong tâm ngươi tự dứt, dứt tức là Bồ-đề. Vậy Diệu-tâm sáng tỏ vốn khắp Pháp-giới, chẳng từ người khác mà được, chẳng nhờ nhọc nhằn tu chứng mà có.

- Ví như có người, nơi áo mình có hạt châu như ý mà chẳng tự biết, nghèo nàn rách rưới, ăn xin nơi phương xa. Người ấy dù nghèo, hạt châu chưa từng mất, bỗng được người Trí chỉ ra hạt châu, liền thành giàu sang tùy theo ý muốn, mới ngộ bảo châu chẳng từ bên ngoài mà có.

Tức thời, A-nan ở trong Chúng đảnh lễ chân Phật, bạch Phật rằng :

- Nay Thế Tôn, nói ba nghiệp Sát, Đạo, Dâm diệt rồi thì ba nhân chẳng sanh và tánh điên của Diễn-nhã-đạt-đa trong tâm tự dứt, dứt tức là Bồ-đề, chẳng từ người khác mà được. Thế thì rõ ràng là nhân duyên rồi, làm sao Như-lai bác bỏ nghĩa nhân duyên ? Chính con do nhân duyên mà tâm được khai ngộ.

- Thế Tôn, nghĩa này chẳng những hàng Thanh-văn hữu học trẻ tuổi như chúng con, cả Mục-kiền-liên, Xá-lợi-phất và Tu-bồ-đề trong Hội này, đều từ nơi ông lão Phạn-chí nghe cái thuyết nhân duyên của Phật, tâm được khai ngộ, thành quả vô lậu. Nay Phật nói Bồ-đề chẳng do nhân duyên, vậy thì cái thuyết tự nhiên của bọn Ngoại-đạo Câu-xá-ly lại thành Đệ-nhất-nghĩa sao ? Xin Phật đại bi, khai phá chỗ mê muội cho chúng con.

Phật bảo A-nan :

- Như Diễn-nhã-đạt-đa, nếu diệt trừ được cái nhân duyên phát điên, thì tánh chẳng điên tự nhiên hiện ra, lý cùng tột của nhân duyên và tự nhiên là vậy.

- A-nan ! Nếu đầu của Diễn-nhã-đạt-đa vốn tự nhiên, đã là tự nhiên, thì tại sao sợ đầu bỏ chạy ? Ấy là do nhân duyên nào ?

- Nếu đầu tự nhiên do nhân duyên nên phát điên, tại sao chẳng tự nhiên do nhân duyên mà mất đi ? Đầu vốn chẳng mất, tại sao vẫn còn vọng sanh điên sợ ? Thế thì đâu phải nhờ nhân duyên ?

- Nếu bản tánh vốn tự nhiên có điên sợ, vậy khi chưa điên, cái điên ẩn núp ở chỗ nào ? Nếu tánh chẳng điên là tự nhiên, đầu vốn chẳng vọng, sao lại bỏ chạy ?

- Nếu ngộ được cái đầu vốn chẳng mất, tánh điên cuồng vốn vọng danh, thì nhân duyên và tự nhiên đều là hý luận.

- Cho nên Ta nói ba duyên diệt rồi tức là tâm Bồ-đề. Tâm Bồ-đề sanh, thì tâm sanh diệt được diệt, ấy cũng là sanh diệt; khi sanh và diệt đều sạch, mới gọi là vô công dụng đạo.

- Nếu có sự chẳng sanh, chẳng diệt gọi là tự nhiên, thì tâm tự nhiên này là do sanh diệt đã sạch mà hiện, ấy cũng là pháp sanh diệt, chẳng phải Bồ-đề. Cái lý chẳng sanh diệt kia gọi là tự nhiên, cũng như các tướng lẫn lộn thành một thể của thế gian, gọi là tánh hòa hợp; cái chẳng hòa hợp thì gọi là tự nhiên. Tự nhiên chẳng phải tự nhiên, hòa hợp chẳng phải hòa hợp, tự nhiên và hòa hợp đều lìa, có lìa có hợp đều sai, đến chỗ này mới được gọi là 'Pháp chẳng hý luận'.

- Nếu dựa vào chỗ này để thủ chứng Vô Thượng Bồ-đề và Niết-bàn thì quả Phật vẫn còn cách xa lắm. Tại sao ? Vì chấp do dụng công tu chứng mà có sở đắc vậy. Kỳ thật, Bồ-đề Niết-bàn vốn sẵn đầy đủ, chỉ có thể sát-na ngộ nhập, chẳng do nhiều kiếp siêng năng tu chứng mà được, dẫu cho nhớ hết diệu lý thanh tịnh như cát sông Hằng trong mười hai bộ Kinh của mười phương Như-lai, chỉ càng thêm hý luận.

- Ngươi dù nói lý nhân duyên, tự nhiên chắc chắn rõ ràng, người đời khen ngươi đa văn bậc nhất, với cái huân tập đa văn nhiều kiếp này, chẳng thể tránh khỏi nạn Ma-dăng-già, phải nhờ Thần-chú của Ta, làm cho Ma-đăng-già dập tắt lửa dâm, sông ái khô cạn, chứng quả A-na-Hàm, nơi pháp Ta thành tựu tinh tấn, khiến ngươi giải thoát. A-nan, ngươi dù nhiều kiếp ghi nhớ những lời bí mật nhiệm mầu của Như-lai, chẳng bằng một ngày tu nghiệp vô lậu, xa lìa hai khổ yêu, ghét của thế gian. Như Ma-đăng-già xưa kia là dâm nữ, do sức Thần-chú, tiêu diệt lòng ái dục, nay trong pháp Ta gọi là Tỳ-kheo-ni tánh với Gia-du-đà-la (mẹ của La-hầu-la) cùng ngộ nhân xưa, biết được nhân duyên nhiều kiếp, đều do tham ái làm khổ, chỉ một niệm huân tu pháp vô lậu thiện, nay người thì ra khỏi ràng buộc, người thì được Phật thọ ký, sao ngươi còn tự dối, kẹt nơi thấy nghe ?

A-nan và Đại Chúng nghe lời Phật dạy, nghi hoặc tiêu trừ, tâm ngộ thật tướng, thân ý khinh an, được pháp chưa từng có, rơi lệ đảnh lễ chân Phật, quỳ gối chắp tay bạch Phật rằng :

- Lòng trong sạch vô thượng đại bi của Phật, khéo khai ngộ cho tâm chúng con, dùng đủ thứ nhân duyên và phương tiện dìu dắt kẻ chìm đắm ra khỏi biển khổ. Thế Tôn, nay con dù được nghe Pháp-âm như thế, nhận biết Diệu-tâm sáng tỏ khắp mười phương thế giới, trùm chứa các cõi Phật thanh tịnh trang nghiêm trong mười phương quốc độ. Như-lai lại trách con đa văn vô ích, chẳng bằng tu tập, nay con như người phiêu bạt, bỗng được Thiên-vương ban cho cái nhà sang, dù được nhà lớn, nhưng phải biết chỗ cửa vào. Vậy xin Như-lai từ bi khai-thị cho những kẻ mê muội trong hội này, lìa bỏ Tiểu-thừa, đều được bước lên con đường đã phát tâm từ xưa nay, thẳng đến Vô Dư Niết-bàn của Như-lai, khiến hàng hữu lậu biết cách uốn dẹp tâm phan duyên từ lâu đời, được Pháp tổng trì, chứng nhập Tri Kiến Phật.

Nói xong, năm vóc gieo sát đất, cả Chúng trong Hội một lòng mong đợi lời dạy của Phật.

Lúc bấy giờ, Thế Tôn thương xót hàng Thanh-văn, Duyên-giác trong hội chưa được tự tại nơi tâm Bồ-đề và những chúng sanh phát tâm Bồ-đề trong đời Mạt-pháp, khai-thị pháp tu nhiệm mầu của Vô-thượng-thừa, bảo A-nan và Đại Chúng rằng :

- Các ngươi quyết định phát tâm Bồ-đề, đối với pháp Tam-ma-đề nhiệm mầu của chư Phật, chẳng sanh mỏi mệt, trước hết nên biết hai nghĩa quyết định trong lúc mới phát tâm.

- Thế nào là hai nghĩa quyết định lúc mới phát tâm ?

- A-nan ! Nghĩa thứ nhất : Nếu các ngươi muốn lìa bỏ Thanh-văn, tu Bồ-tát-thừa, nhập Tri Kiến Phật, thì nên xét kỹ chỗ phát tâm của nhân địa, với chỗ giác ngộ của quả địa là đồng hay là khác ? A-nan, nếu ở nơi nhân địa, dùng tâm sanh diệt làm cái nhân tu hành, để cầu cho được quả chẳng sanh diệt của Phật-thừa thì chẳng đúng. Do nghĩa này, ngươi nên xét kỹ vạn vật trên thế gian, các pháp có thể tạo ra đều phải biến diệt. A-nan, ngươi hãy xem các pháp có thể tạo ra, có cái nào chẳng hoại chăng ? Nhưng chẳng bao giờ nghe nói hư không biến hoại. Tại sao ? Vì hư không chẳng phải là vật sở tạo, cho nên chẳng thể biến hoại.

- Vậy thì trong thân ngươi, tánh cứng là Địa, ướt nhờn là Thủy, hơi ấm là Hỏa, lay động là Phong, do tứ Đại ràng buộc, mà chia cái Diệu-tâm sáng tỏ của ngươi ra thành Kiến, Văn, Giác, Tri từ vô thỉ, tạo thành năm lớp ô trược.

- Sao gọi là trược ? A-nan, ví như nước trong bản tánh thanh khiết và những thứ bụi, đất, tro, cát, bản chất ngăn ngại, thể tánh vốn khác nhau. Bỗng có người lấy đất cát bỏ vào nước trong, làm cho đất mất ngăn ngại, nước mất thanh khiết, thành tướng vẩn đục, nên gọi là trược. Năm lớp ô trược của ngươi cũng vậy.

- A-nan ! Ngươi thấy hư không khắp mười phương thế giới, hư không và Kiến-tinh chẳng thể phân ra rõ ràng; hư không thì chẳng có bản thể, tức là ngoan không; Kiến-tinh thì chẳng có Bản-giác, tức là vô minh, cả hai giao kết lẫn nhau, vọng thành lớp thứ nhất, gọi là Kiếp Trược.

- Kiến, Văn, Giác, Tri vốn chẳng ngăn ngại, vì kẹt nơi tứ Đại nên thành ngăn ngại; Địa, Thủy, Hỏa, Phong vốn chẳng giác tri, vì xoay chuyển theo lục căn thành có giác tri, các điều đó giao kết lẫn nhau, vọng thành lớp thứ hai, gọi là Kiến Trược.

- Lại, trong tâm ngươi, tánh tưởng nhớ học tập phát ra tri kiến, dung nạp lục trần, lìa trần thì chẳng có tướng, lìa giác thì chẳng có tánh, từ đó giao kết lẫn nhau vọng thành lớp thứ ba gọi là Phiền Não Trược.

- Lại tâm niệm của ngươi ngày đêm sanh diệt chẳng ngừng, tri kiến thì muốn ở mãi trên thế gian, nhưng nghiệp báo xoay vần lại thường dời đổi trong Lục-đạo, những điều ấy giao kết lẫn nhau, vọng thành lớp thứ tư, gọi là Chúng Sanh Trược.

- Tánh kiến văn của các ngươi vốn chẳng khác biệt, do lục trần ngăn cách, bỗng thành khác biệt, tánh biết thì đồng, sự dụng thì khác, đồng và khác chẳng định, từ đó giao kết lẫn nhau, vọng thành lớp thứ năm, gọi là Mệnh Trược.

- A-nan ! Nay ngươi muốn cho Kiến, Văn, Giác, Tri khế hợp với tứ đức Thường, Lạc, Ngã, Tịnh của Như-lai, trước hết phải lọc bỏ cội gốc sanh tử, dựa theo tánh trong lặng chẳng sanh diệt của Diệu-tâm, để xoay các thứ sanh diệt hư vọng trở về Bản-giác. Được tánh chẳng sanh diệt của Bản-giác làm cái tâm nhân địa, rồi mới viên thành sự tu chứng của quả địa. Như lắng nước đục trong đồ đựng nước, để yên mãi chẳng lay động, đất cát tự chìm và nước trong hiện ra, ấy gọi là bắt đầu uốn dẹp được khách trần phiền não; gạn bùn hết sạch, chỉ còn nước trong, gọi là dứt hẳn căn bản vô minh, tướng minh thuần nhất thì tất cả biến hiện đều chẳng gây ra phiền não và đều hợp với diệu đức trong sạch của Niết-bàn.

- Nghĩa thứ hai : Các ngươi nếu muốn phát tâm Bồ-đề nơi Bồ-tát-thừa, sanh lòng đại dũng mãnh, quyết định lìa bỏ các tướng hữu vi, nên suy xét kỹ cái cội gốc phiền não của nhuận (nhuần) nghiệp vô minh và nhuận sanh vô minh từ vô thỉ này là ai làm, ai chịu ?

LƯỢC GIẢI

Xét kỹ chỗ phát tâm của nhân địa là để hợp cái Chơn; xét kỹ cội gốc của phiền não là để tuyệt cái Vọng, vọng đã chẳng vọng thì tức vọng tức chơn. 

Cội gốc của phiền não có hai : một là Nhuận Nghiệp Vô Minh (nhuận là thấm nhuần), tức là phiền não của những kiếp quá khứ; hai là Nhuận Sanh Vô Minh, tức là khi đầu thai, nơi tình thức sanh khởi yêu, ghét đối với cha mẹ. Hai thứ phiền não này vốn chẳng tựtánh, nếu ngộ biết chẳng tựtánh thì chẳng có kẻ làm, chẳng có kẻ chịu, ngay đó "không tịch", còn ai phiền não ? Người Tiểu-thừa chẳng lìa công dụng hữu vi, cho thật có phiền não cần phải phá trừ, ấy do chẳng biết căn trần là hư vọng. Người Đại-thừa thì khác, thẳng đến Vô Thượng Bồ-đề, chỉ cần xét kỹ nơi căn trần ai làm ai chịu, bỗng được khám phá, thì căn bản vô minh tức thời tan rã.

*****

 

Tác giả bài viết: thichdaophat

Nguồn tin: Tông Phong Tàng Thư

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn