03:57 EDT Thứ hai, 22/07/2019

Giới Thiệu

Thiền sư Lai Quả

  Sư tên Diệu Thọ tự Lai Quả, hiệu là Tịnh Như, con nhà nông họ Lưu, quê ở huyện Hoàng Cương, tỉnh Hồ Bắc.  Năm lên bảy, Sư nghe vị Tăng bên cạnh tụng câu "Vô trí diệc vô đắc" trong Tâm Kinh, Sư có tỉnh ngộ. Năm 12 tuổi, Sư có chí thoát trần, trốn đi xuất gia, bị người anh tìm bắt trở...

Danh mục chính

Liên Kết Trang

HUE NANG
TS DUC SON
TS NGUYET KHE

Trang nhất » Tông Phong Tàng Thư » Kinh » Kinh Lăng Nghiêm

Kinh Lăng Nghiêm - Quyển 3 (tt)

Thứ bảy - 06/04/2013 14:08 Xem: 867

THẤT ĐẠI

33. TÁNH ĐỊA ĐẠI VỐN VÔ SANH

- Ngươi xem tánh Địa, thô là đại địa, tế là vi trần, cho đến cực vi là lân hư trần, là sắc tướng nhỏ tột, nếu phân tách nữa thì thành tánh hư không.

- A-nan, nếu cái lân hư trần đó tách được thành hư không, thì hư không cũng sanh được sắc tướng. Nay ngươi hỏi rằng, do hòa hợp mà sanh các tướng biến hóa trên thế gian, thì ngươi hãy xét, cái lân hư trần này phải dùng bao nhiêu hư không hợp lại mới có ? Chẳng lẽ lân hư trần hợp thành lân hư trần ? Lại lân hư trần đã tách thành hư không, thì dùng bao nhiêu sắc tướng hợp lại mới được thành hư không ? Nếu lúc hợp sắc, sắc chẳng phải hư không; nếu lúc hợp không, hư không chẳng phải là sắc, sắc còn có thể tách ra được, chứ hư không làm sao mà hợp ?

- Ngươi vốn chẳng biết, trong Như-lai-tạng (Tự-tánh), tánh Sắc chơn Không (thể tánh của Sắc chẳng phải thật, tức là Chơn-không), tánh Không chơn Sắc (thể tánh của Không chẳng phải thật, tức là Chơn-sắc), tựtánh vốn thanh tịnh, đầy khắp mười phương Pháp-giới, tùy theo mức độ hiểu biết của tâm chúng sanh tạo thành nghiệp và nương theo nghiệp ấy biến hiện các cảnh giới hiện hữu. Người thế gian chẳng biết những hiện tượng đó chỉ là mở mắt chiêm bao, lại mê lầm cho là nhân duyên và tự nhiên, ấy đều là do tâm thức phân biệt suy lường. Phàm là lời nói đều chẳng phải nghĩa thật.

34. TÁNH HỎA ĐẠI VỐN VÔ SANH

- A-nan ! Tánh hỏa chẳng có tự thể, nhờ các trợ duyên mà phát sanh. Ngươi xem các nhà, khi muốn nhóm lửa nấu cơm thì cầm tấm kiếng đưa dưới ánh sáng mặt trời mà lấy lửa.

- A-nan ! Cái gọi là hòa hợp, cũng như Ta cùng ngươi và 1250 vị Tỳ-kheo, nay hợp thành một Chúng; Chúng dù là một, xét về căn bản thì mỗi người đều có thân riêng biệt, có tên gọi và họ hàng của mình, như Xá-lợi-phất thuộc dòng Bà-la-môn, Ưu-lâu-tần-loa thuộc dòng Ca-diếp-ba, cho đến ngươi thì thuộc dòng họ Cù-đàm.

- A-nan ! Nếu tánh lửa này do hòa hợp mà có, thì khi người cầm kiếng lấy lửa nơi ánh sáng mặt trời, lửa này từ trong kiếng ra, từ bùi nhùi ra, hay từ mặt trời ra ?

- A-nan ! Nếu lửa từ mặt trời ra, đốt được bùi nhùi trong tay người ấy, thì những rừng cây mà ánh sáng mặt trời chiếu qua, lẽ ra đều bị đốt cả. Nếu từ trong kiếng ra, có thể đốt cháy bùi nhùi, sao cái kiếng lại không chảy ? Cả cái tay người cầm kiếng còn chẳng thấy nóng thì làm sao kiếng lại chảy được ? Nếu do bùi nhùi ra thì cần gì ánh sáng mặt trời với kiếng tiếp xúc nhau rồi mới có lửa ?

- Ngươi lại xét kỹ, kiếng do tay cầm, mặt trời thì ở trên không, còn bùi nhùi thì từ đất sanh ra, vậy lửa từ phương nào mà đi đến chỗ này ? Mặt trời và kiếng cách xa nhau, chẳng hòa chẳng hợp, chẳng lẽ tánh lửa khi không tự có ?

- Ngươi còn chẳng biết, trong Như-lai-tạng, tánh Hỏa chơn Không, tánh Không chơn Hỏa, tựtánh vốn thanh tịnh, đầy khắp mười phương Pháp-giới, tùy theo mức độ hiểu biết của tâm chúng sanh tạo thành nghiệp và nương theo nghiệp ấy biến hiện các cảnh giới hiện hữu. A-nan nên biết, người thế gian ở nơi này cầm kiếng thì nơi này bốc lửa; nếu khắp Pháp-giới đều cầm kiếng thì khắp Pháp-giới bốc lửa, lửa cháy khắp thế gian, đâu có xứ sở, chỉ tùy theo nghiệp thức của chúng sanh mà biến hiện. Người thế gian chẳng biết lại mê lầm cho là tánh nhân duyên và tự nhiên ấy đều là do tâm thức phân biệt suy lường. Phàm là lời nói đều chẳng phải nghĩa thật.

35. TÁNH THỦY ĐẠI VỐN VÔ SANH

- A-nan ! Tánh thủy chẳng định, ngưng và chảy không chừng. Như trong thành Thất-la-phiệt, các ông Ca-tỳ-la, Chước-ca-la và các nhà đại huyễn thuật Bát-đầu Ma-ha-tát-đa, khi muốn cầu Thái-âm-tinh để hòa các thuốc huyễn thuật, thì các ông ấy ở giữa đêm trăng sáng, tay cầm hạt châu, hứng nước dưới ánh trăng. Vậy nước này từ hạt châu ra, từ hư không ra, hay từ mặt trăng ra ?

- A-nan ! Nếu từ mặt trăng ra, ánh trăng đã có thể từ phương xa làm cho hạt châu chảy nước, thì những rừng cây mà ánh trăng chiếu qua, lẽ ra đều phải chảy nước. Nếu chảy nước thì khỏi đợi hạt châu mới có nước chảy; nếu không chảy nước thì rõ ràng nước chẳng phải từ mặt trăng ra. Nếu từ hạt châu ra, thì trong hạt châu phải thường chảy nước, đâu cần đợi ánh trăng trong lúc nửa đêm ? Nếu từ hư không ra thì hư không vô tận, nước cũng vô biên, vậy từ cõi người đến cõi Trời đều bị chìm ngập cả, làm sao lại có các loài ở dưới nước, trên bờ và trên không ?

- Ngươi hãy xét kỹ, mặt trăng ở trên trời, hạt châu ở nơi tay, còn mâm đựng hạt châu hứng nước thì do người đặt ra, vậy nước từ phương nào mà chảy đến đây ? Mặt trăng và hạt châu cách xa nhau, chẳng hòa chẳng hợp, chẳng lẽ nước khi không tự có ?

- Ngươi còn chẳng biết, trong Như-lai-tạng, tánh thủy chơn không, tánh không chơn thủy, tựtánh vốn thanh tịnh, cùng khắp mười phương Pháp-giới, tùy theo mức độ hiểu biết của tâm chúng sanh tạo thành nghiệp và nương theo nghiệp ấy biến hiện các cảnh giới hiện hữu. Hễ nơi này cầm hạt châu thì nơi này chảy nước; khắp Pháp-giới cầm hạt châu thì khắp Pháp-giới chảy nước. Tánh thủy cùng khắp thế gian, đâu có xứ sở, chỉ theo nghiệp thức, của chúng sanh mà biến hiện. Người thế gian chẳng biết lại mê lầm cho là tánh nhân duyên và tự nhiên, ấy đều là do tâm thức phân biệt suy lường. Phàm là lời nói đều chẳng phải nghĩa thật.

36. TÁNH PHONG ĐẠI VỐN VÔ SANH

- A-nan ! Tánh Phong chẳng có tự thể, động tịnh không chừng.

- Ngươi thường ở nơi Chúng mà sửa áo, chéo áo Tăng-già-lê chạm đến người bên cạnh thì có chút gió phất qua mặt người kia, vậy gió này từ chéo áo Cà-sa ra, từ hư không ra, hay từ mặt người kia ra ?

- A-nan ! Nếu gió từ chéo áo Cà-sa ra thì ngươi đã mặc luôn cả gió, lẽ ra cái áo phải tung bay ra, rời khỏi thân ngươi. Nay Ta rũ áo ở trong Hội này, ngươi hãy xem cái áoTa, gió núp ở chỗ nào ? Chẳng lẽ trong áo lại có chỗ chứa gió ư ?

- Nếu gió từ hư không ra, khi cái áo ngươi chẳng động, thì sao lại chẳng phất ? Tánh hư không thường trụ thì gió phải thường sanh, vậy lúc chẳng gió, hư không phải diệt; gió diệt còn có thể thấy được, hư không diệt thì là hình tướng gì ? Nếu có sanh diệt thì chẳng gọi là hư không, đã gọi là hư không thì làm sao lại có gió ra ?

- Nếu gió từ mặt người bị phất sanh ra, thì đã từ mặt người đó ra, lẽ ra phải phất lại ngươi, sao tự ngươi sửa áo mà phất ngược lại người kia ?

- Ngươi hãy xét kỹ; sửa áo do ngươi, cái mặt thì thuộc người kia, hư không thì vắng lặng chẳng lay động, vậy gió từ phương nào dong ruổi đến đây ? Tánh gió và tánh hư không khác nhau, chẳng hòa chẳng hợp, chẳng lẽ tánh gió khi không tự có ư ?

- Ngươi còn chẳng biết, trong Như-lai-tạng, tánh phong chơn không, tánh không chơn phong, tựtánh vốn thanh tịnh, cùng khắp mười phương Pháp-giới, tùy theo mức độ hiểu biết của tâm chúng sanh tạo thành nghiệp và nương theo nghiệp ấy, biến hiện các cảnh giới hiện hữu. A-nan, như một mình ngươi hơi động cái áo thì có chút gió ra, khắp Pháp-giới đều phất thì khắp Pháp-giới đều ra gió, tánh phong đầy khắp thế gian, đâu có xứ sở, chỉ theo nghiệp thức của chúng sanh mà biến hiện. Người thế gian chẳng biết, lại mê lầm cho là tánh nhân duyên và tự nhiên, ấy đều là do tâm thức phân biệt suy lường. Phàm là lời nói đều chẳng phải nghĩa thật.

37. TÁNH KHÔNG ĐẠI VỐN VÔ SANH

- A-nan ! Tánh Không vô hình, nhờ sắc tướng mới được hiển bày. Như trong thành Thất-la-phiệt, chỗ cách xa sông, những dòng Sát-lỵ, Bà-la-môn, Tỳ-xá, Thủ-đà, Phả-la-đọa, Chiên-đà-la v.v... khi dựng nhà xong, đào giếng lấy nước, đào ra một thước đất thì có một thước hư không; như vậy cho đến đào ra một trượng đất thì lại được một trượng hư không, hư không sâu hay cạn là tùy theo đất đào ra được nhiều hay ít. Vậy hư không này từ đào đất ra, do đào mà có, hay vô nhân tự sanh ?

- A-nan ! Nếu hư không vô nhân tự sanh, thì khi chưa đào đất, sao nơi đó lại chẳng vô chướng ngại, mà chỉ thấy đất liền, chẳng thấy trống rỗng ?

- Nếu từ đào đất ra, thì khi đất ra, phải thấy hư không vào; nếu đất ra trước mà không thấy hư không vào, thì sao nói hư không từ đào đất mà ra ? Nếu chẳng ra vào thì hư không với đất vốn chẳng có khác, chẳng khác tức là đồng, thì lúc đào đất ra, hư không sao chẳng ra ? Nếu do đào mà có, thì phải đào ra hư không, chứ chẳng phải đào ra đất; nếu chẳng do đào mà có, thì làm sao lại thấy hư không ?

- Ngươi hãy xét kỹ, đào do tay người vận động, đất theo sự đào mà dời chỗ, vậy hư không từ đâu mà ra ? Đào thì có thật chất, hư không thì trống rỗng, chẳng tác dụng với nhau, chẳng hòa chẳng hợp, chẳng lẽ hư không khi không tự ra ?

- Vậy, tánh hư không cùng khắp, vốn chẳng lay động. Nên biết hiện tiền địa, thủy, hỏa, phong và hư không gọi là năm Đại, tánh chất viên dung, đều là Như-lai-tạng, vốn chẳng sanh diệt.

- A-nan ! Tâm ngươi mê muội, chẳng ngộ được tứ Đại vốn là Như-lai-tạng, ngươi hãy xem hư không là ra hay vào; hoặc chẳng ra vào ? Ngươi còn chẳng biết trong Như-lai-tạng, tánh giác chơn không, tánh không chơn giác, tựtánh vốn thanh tịnh, cùng khắp Pháp-giới, tùy theo mức độ hiểu biết của tâm chúng sanh tạo thành nghiệp và nương theo nghiệp ấy biến hiện các cảnh giới hiện hữu.

- A-nan, như đào một giếng thì ra một giếng hư không, vậy mười phương hư không cũng như thế, tánh Không cùng khắp mười phương, đâu có xứ sở, chỉ theo nghiệp thức của chúng sanh mà biến hiện. Người thế gian chẳng biết, lại mê lầm cho là tánh nhân duyên và tự nhiên, ấy đều là do tâm thức phân biệt suy lường. Phàm là lời nói đều chẳng phải nghĩa thật.

38. TÁNH KIẾN ĐẠI VỐN VÔ SANH

- A-nan ! Bổn kiến, Bổn giác vốn chẳng có năng tri sở tri, vì Sắc và Không mới có lập năng sở. Như ngươi hôm nay ở vườn Kỳ-đà, ngày sáng đêm tối, nếu nửa đêm có trăng thì sáng, không trăng thì tối, do Kiến-tinh phân biệt nên có sáng và tối. Vậy kiến này với tướng sáng, tối và hư không là một thể hay chẳng phải một thể ? Hoặc đồng, chẳng đồng ? Hoặc khác, chẳng khác ?

- A-nan ! Nếu cái kiến này cùng với sáng, tối, hư không vốn là một thể, thì sáng và tối hai tướng nghịch nhau, khi sáng chẳng tối, khi tối chẳng sáng. Nếu cùng với tối đồng một thể thì khi sáng, cái kiến biến mất, hễ cùng với sáng đồng một thể, thì khi tối, cái kiến ấy phải diệt, đã diệt thì lấy gì để thấy sáng thấy tối ? Nếu sáng tối khác nhau, kiến chẳng sanh diệt thì đâu có thể nói là một thể được ?

- Nếu cái kiến này cùng với sáng tối chẳng phải một thể, thì ngươi lìa sáng, tối và hư không, phân tách cái Kiến-tinh xem là hình tướng gì ? Lìa sáng, tối và hư không thì Kiến-tinh đồng như lông rùa sừng thỏ. Sáng, tối, hư không ba thứ đều khác biệt, vậy từ đâu mà lập Kiến-tinh ? Sáng, tối nghịch nhau, làm sao nói đồng được ? Lìa ba thứ vốn chẳng có, làm sao nói khác được ? Hư không và Kiến-tinh vốn chẳng có ranh giới, làm sao nói chẳng đồng ? Thấy sáng thấy tối, sở kiến thay đổi, làm sao nói chẳng khác ?

- Ngươi cần phải xem xét vi tế kỹ càng, xét tới cứu cánh triệt để. Sáng do mặt trời, tối do đêm không trăng, thông thuộc về hư không, nghẽn thuộc về đại địa, Kiến-tinh có giác, hư không vô tri, chẳng hòa chẳng hợp, vậy Kiến-tinh từ đâu mà ra ? Chẳng lẽ khi không tự ra ?

- Nên biết Kiến, Văn, Giác, Tri, thể tánh viên mãn cùng khắp mọi nơi, vốn chẳng lay động, với hư không vô biên chẳng động, và địa, thủy, hỏa, phong, lay động, cùng gọi là Lục Đại, thể tánh viên dung, đều là Như-lai-tạng, vốn chẳng sanh diệt.

- A-nan ! Ngươi đánh mất Tự-tánh, chẳng ngộ kiến, văn, giác, tri của ngươi vốn là Như-lai-tạng. Ngươi hãy xem cái kiến, văn, giác, tri này là sanh hay diệt, là đồng hay dị, là chẳng sanh diệt hay chẳng đồng dị ? Ngươi còn chẳng biết, trong Như-lai-tạng, tánh kiến giác minh, giác tinh minh kiến (cái bổn kiến là Tự-tánh vốn giác vốn minh, cái tinh thể của Bổn-giác vốn minh vốn kiến), vốn tự nhiên thanh tịnh, cùng khắp Pháp-giới, tùy theo mức độ hiểu biết của tâm chúng sanh tạo thành nghiệp và nương theo nghiệp ấy mà biến hiện các cảnh giới hiện hữu. Như một Kiến-tinh thấy cùng Pháp-giới, cho đến tai nghe, mũi ngửi, miệng nếm, thân xúc, ý biết, sự diệu dụng rõ ràng viên mãn, cùng khắp mười phương Pháp-giới, đâu có xứ sở, chỉ theo nghiệp thức của chúng sanh biến hiện. Người thế gian chẳng biết, lại mê lầm cho là tánh nhân duyên và tự nhiên, ấy đều do tâm thức phân biệt suy lường. Phàm là lời nói đều chẳng phải nghĩa thật.

39. TÁNH THỨC ĐẠI VỐN VÔ SANH

- A-nan ! Tánh của Thức vốn chẳng có nguồn gốc, duyên theo sáu thứ căn trần hư vọng mà sanh. Nay ngươi hãy xem khắp Thánh-chúng trong Hội này khi mới dùng con mắt lướt qua, chưa khởi phân biệt thì thấy Chúng chỉ như bóng tượng trong gương, rồi tâm thức của ngươi theo thứ tự phân biệt đây là Văn-thù, đây là Phú-lâu-na, rồi tới Mục-kiền-liên, Tu-bồ-đề, Xá-lợi-phất v.v...Vậy sự biết của thức này từ Kiến-tinh ra, từ sắc tướng ra, từ hư không ra, hay khi không vô nhân mà ra ?

- A-nan ! Giả sử thức của ngươi từ Kiến-tinh ra, nếu chẳng có sáng tối và sắc không, thì chẳng có Kiến-tinh, Kiến-tinh còn chẳng có, vậy thức từ đâu mà ra ?

- Nếu thức của ngươi từ sắc tướng ra, chẳng từ Kiến-tinh ra, thì chẳng thấy sáng, cũng chẳng thấy tối, sáng tối đã chẳng thấy tức chẳng có sắc không, sắc tướng kia còn chẳng có thì thức do đâu mà ra ?

- Nếu từ hư không ra, chẳng phải sắc tướng, cũng chẳng phải Kiến-tinh. Nếu chẳng phải Kiến-tinh thì chẳng thể phân biệt, tự nhiên không thể biết được các tướng sáng tối và sắc không. Nếu chẳng phải sắc tướng thì sở duyên diệt mất, vậy kiến, văn, giác, tri chẳng có chỗ an lập. Giữa hai thứ chẳng phải kể trên, nếu "không" thì thức đồng như chẳng có; nếu "có" thì thức đồng như các vật, dẫu cho có thức của ngươi cũng thành vô dụng.

LƯỢC GIẢI

Hư không vô hình, vốn chẳng có bản thể, nếu Tâm-thức từ hư không ra thì cũng giống như hư không, chẳng có bản thể để nương tựa, tức là thức chẳng phải sắc tướng, cũng chẳng phải Kiến-tinh. Giữa hai thứ chẳng phải kể trên, nếu cho là "không bản thể" thì thức đồng như không có; nếu cho là "có bản thể" thì thức đồng như các vật; vật thì vô tri, chẳng có tánh phân biệt, vậy dẫu cho có thức cũng thành vô dụng.

*****

40. Khai Thị Như-lai Tạng

- Nếu khi không vô nhân mà ra, thì sao chẳng cho mặt trời là mặt trăng ?

- Ngươi hãy suy xét kỹ càng, cái thấy phải nhờ mắt ngươi, sắc tướng là cảnh của tiền trần; những gì có tướng mới thành có, chẳng tướng ắt thành không, như vậy thức từ đâu mà ra ?

- Thức thì linh động, Kiến-tinh thì trong lặng, chẳng hòa chẳng hợp, kiến, văn, giác, tri đều như thế, chẳng lẽ thức khi không tự ra ?

- Nếu thức này vốn chẳng từ chỗ nào ra, sự dụng của kiến, văn, giác, tri trạm nhiên viên mãn, tánh chẳng năng sở. Vậy địa, thủy, hỏa, phong, hư không và bổn kiến, bổn thức, gọi là Thất Đại, thể tánh chơn thật viên dung, ấy đều là Như-lai-tạng, vốn chẳng sanh diệt.

- A-nan ! Tâm ngươi vọng chấp, chẳng ngộ kiến, văn, giác, tri, vốn là Như-lai-tạng, ngươi hãy xét sáu chỗ tâm thức này là đồng hay dị, là có hay không, là chẳng đồng dị hay chẳng có không ?

- Ngươi còn chẳng biết, trong Như-lai-tạng, tánh thức minh tri, giác minh chơn thức (tánh của bổn thức rõ ràng chơn tri, bổn giác vốn sáng tỏ là giác minh, phân biệt mà chẳng năng sở đối đãi là chân thức), Diệu-giác trạm nhiên, như như bất động, chẳng thể nghĩ lường được, đầy trùm Pháp-giới, hiển bày khắp mười phương hư không đâu có xứ sở, tùy theo nghiệp của chúng sanh biến hiện các cảnh giới hiện hữu. Người thế gian chẳng biết, lại mê lầm cho là tánh nhân duyên và tự nhiên, ấy đều là do tâm thức phân biệt suy lường. Phàm là lời nói đều chẳng phải nghĩa thật.

Bấy giờ, A-nan và Đại Chúng được sự khai-thị vi diệu của Phật, thân tâm phẳng lặng, chẳng còn ngăn ngại, mỗi mỗi tự biết tâm thức cùng khắp mười phương, thấy mười phương hư không như xem các vật trong bàn tay; tất cả vật tượng trên thế gian đều vốn là tánh Bồ-đề sáng suốt của Diệu-tâm. Tâm tánh tròn đầy, cùng khắp mười phương, xem lại cái thân của cha mẹ sanh ra, như mảy bụi lửng lơ trong mười phương hư không thoạt còn thoạt mất; như một bọt nước trôi trong biển cả, chẳng biết sanh diệt từ đâu. Rõ ràng tự biết được cái bổn lai thường trụ chẳng diệt của Diệu-tâm, được pháp chưa từng có, nên chắp tay lễ Phật và nói kệ tán thán Phật rằng :

Trong lặng vạn năng chẳng động tịnh (l)

Lăng Nghiêm Đại Định đời hy hữu (2)

Tiêu điên đảo tưởng từ vô thỉ,

Chẳng nhọc nhiều kiếp được Pháp-thân.

Nguyện nay đắc quả thành Chánh-giác,

Độ thoát chúng sanh như Hằng-sa.

Hết lòng phụng sự vô số cõi,

Thế mới gọi là đền ơn Phật,

Cúi xin Thế Tôn chứng minh cho,

Ngũ trược ác thế nguyện vào trước,

Nếu một chúng sanh chưa thành Phật,

Quyết chẳng tự mình chứng Niết-bàn,

Đại hùng đại lực đại từ bi,

Mong dứt trừ tập khí vi tế.

Khiến con mau đến Vô Thượng Giác,

Mười phương thế giới tọa đạo tràng.

Dẫu cho hư không bị tiêu mất,

Bổn-tâm kiên cố chẳng lay động.

GHI CHÚ :

(1) Trong lặng vạn năng chẳng động tịnh.

Tại sao "Diệu trạm tổng trì bất động tôn" dịch là "Trong lặng vạn năng chẳng động tịnh" ?

Chữ "Trạm" nghĩa là trong lặng chẳng động, nhưng chưa phải là "Diệu Trạm"; chẳng động chẳng tịnh cũng chẳng trụ nơi chẳng động tịnh, mới được gọi là "Diệu Trạm".

Tổng nhất thiết pháp, trì nhất thiết nghĩa, tổng trì tất cả pháp nghĩa, nên nói là "Vạn Năng" vậy.

(2) Lăng Nghiêm Đại Định đời hy hữu :

Tại sao "Thủ Lăng Nghiêm Vương" dịch là "Lăng Nghiêm Đại Định" ? Vì Thủ Lăng Nghiêm chỉ là tên của Kinh, Kinh đã phổ biến trên đời thì chẳng phải là hy hữu, cần phải theo đó tu chứng được Đại Định mới là hy hữu.

Có nhập định, xuất định, chưa phải là "Đại Định","Đại Định" thì chẳng có xuất nhập, lúc đang náo động vẫn là Định, nên gọi là Đại Định, vậy mới được làm Vua trong tất cả định (Thủ Lăng Nghiêm Vương).

 

Tác giả bài viết: thichdaophat

Nguồn tin: Tông Phong Tàng Thư

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn