14:53 EST Thứ sáu, 02/12/2022

Giới Thiệu

Thiền sư Lâm tế

Sư họ Hình, hiệu là Nghĩa Huyền, quê quán ở Nam Hoa (TQ). Thuở bé, Sư đã có chí lớn xuất gia, sau khi xuống tóc và thọ Giới-cụ-túc, Sư liền ham mộ Thiền-tông. Trong Thiền-hội Hoàng Bá, Sư là người có hạnh nghiệp thuần nhứt. Một hôm ngài Mục Châu, một vị Thiền-sư đã kiến Tánh triệt để là Thủ-tọa...

Danh mục chính

Liên Kết Trang

TS DUC SON
HUE NANG
TS NGUYET KHE

Trang nhất » Tông Phong Tàng Thư » Sách Hướng Dẫn Tham Thiền » Cội nguồn truyền thừa

Cội nguồn truyền thừa của Thiền tông - phần III

Thứ hai - 01/04/2013 07:15 Xem: 1595
Thiền bệnh
VI. THAM THIỀN LẦM DỤNG CÔNG RẤT DỄ PHẠM NHỮNG BỆ̣NH SAU ĐÂY :

1. Chỉ Bệnh :

Đè nén tất cả tư tưởng miễn cưỡng dừng lại, như nước biển chẳng nổi sóng, chẳng nổi một bọt nhỏ. Tiểu-thừa đoạn dứt lục Căn, Đạo-giáo thanh tịnh quả dục, tuyệt Thánh bỏ Trí đều thuộc bệnh này, Phật-tánh thì chẳng hợp với Chỉ.

2. Tác Bệnh :

Bỏ vọng lấy chơn, lấy niệm xấu đổi niệm lành, nghịch Trần hợp Giác, nghịch Giác hợp Trần; phá một phần vô minh, chứng một phần Pháp-thân; Lão-tử nói: “Thường vô dục để quán diệu, thường hữu dục để quán sai”; Khổng-tử “Chánh tâm thành ý”, nhà Nho “Trừ bỏ ích kỷ của dục vọng, tồn tại chánh tâm của thiên lý”, ấy thuộc về bệnh này, Phật chẳng do Tác mà đắc.

3. Nhậm Bệnh :

Tư tưởng khởi cũng mặc kệ, diệt cũng mặc kệ, chẳng dứt sanh tử, chẳng cầu Niết-bàn, chẳng trụ và chấp trước tất cả tướng, chiếu mà thường tịch, tịch mà thường chiếu, đối cảnh vô tâm, nhà Nho “Lạc thiên tri mệnh”, Đạo-giáo “Trở về tự nhiên”, “Trở về hài nhi” đều thuộc bệnh này, Phật-tánh chẳng do Nhậm mà có.

4. Diệt Bệnh :

Tất cả tư tưởng dứt sạch, mênh mông trống rỗng đồng như gỗ đá, Trung-thừa phá 'nhất niệm vô minh', Trang-tử “Tọa vong”, nhà Nho “Ngã tâm vũ trụ” và chơn lý của sáu thứ Ngoại-đạo ở Ấn-độ thuộc bệnh này, Phật-tánh chẳng do Diệt mà có.

Tham-thiền lầm dụng công phu nếu phạm bốn bệnh kể trên thì sẽ lầm Tứ-tướng, nay lược giải như sau :

A. Ngã-tướng: Tức là Ngã-chấp; Tiểu-thừa khi đã dứt lục Căn, Tiểu-ngã đã diệt, lại vào cảnh giới Đại-ngã, lúc ấy Tâm-lượng rộng lớn, thanh tịnh tịch diệt, hình như đầy khắp vũ trụ. Nhà Triết-học Hy Lạp nói “Đại-ngã”, “Thượng-đế”; Lão-tử “Nhấp nhoáng trong đó có tượng, nhấp nhoáng trong đó có vật; sâu xa mịt mù, trong đó có tinh” đều thuộc về Ngã-tướng.

B. Nhơn-tướng: Tức Pháp-chấp, khởi niệm sau để phá niệm trước, ví như niệm trước có ngã, niệm sau chẳng nhận là ngã, rồi lại khởi một niệm nữa để phá cái niệm “Chẳng nhận là ngã”, nối liền như thế cho đến vô ngã, nhưng kiến giải “Phá” vẫn còn, ấy là Nhơn-tướng. Trang-tử nói : “Ta nay mất ngã” tức là Nhơn-tướng.

C. Chúng-sanh-tướng: Cũng là Pháp-chấp, cảnh giới này ngã-tướng, nhơn-tướng chẳng thể đến, tức là Chúng-sanh-tướng. Nhà Nho nói : “Mừng, giận, buồn, vui khi chưa phát gọi là Trung”. Thư Kinh nói : “Duy tinh duy nhất, nên chấp nơi Trung”, chữ Trung này tức là Chúng-sanh-tướng.

D. Thọ-giả-tướng: Tức là Không-chấp, tất cả tư tưởng đều đã ngưng nghỉ, tất cả thị phi thiện ác đều đã quên mất, trong đó trống rỗng chẳng có chi cả, đồng như mạng-căn. Lục-tổ gọi là Vô-ký-không, Nhị-thừa nhận lầm cho là cảnh giới Niết-bàn, kỳ thật chính là Vô-thỉ-vô-minh, Thiền-tông gọi là hầm-sâu-vô-minh (hầm sâu đen tối mịt mù), Đạo-giáo nói “Vô-cực” tức là cảnh giới này.

Bốn Tướng kể trên đều thuộc pháp-hữu-vi, đều chẳng cứu cánh, nên kinh Viên Giác nói : “Chúng sanh đời Mạt-pháp chẳng rõ bốn Tướng, dù khổ hạnh tu tập trải qua nhiều kiếp, chỉ gọi là hữu-vi, rốt cuộc chẳng thể thành tựu tất cả Thánh-quả”. Kinh Kim Cang nói : “Có Ngã-tướng, Nhơn-tướng, Chúng-sanh-tướng, Thọ-giả-tướng ắt chẳng phải Bồ-tát” là chỉ rõ bốn thứ cảnh giới này đều chẳng phải Chánh-pháp. Người trí kém thường nói “Tam-giáo cùng nguồn”, nếu được rõ tinh nghĩa bốn Tướng này thì biết Tam-giáo cách nhau như Trời với đất.

Vì phạm bốn bệnh bèn lầm nhận 'kiến, văn, giác, tri'là Phật-tánh :

Huệ Trung Quốc-sư hỏi một Thiền-giả : Từ đâu đến ? 

Đáp : Từ miền Nam đến. 

Sư hỏi : Miền Nam có Thiện-tri-thức nào ?

Đáp : Tri-thức rất nhiều.

Sư hỏi : Làm sao dạy người ?

Đáp : Tri-thức miền Nam khai-thị người học “Tức Tâm là Phật, nghĩa Phật là Giác, nay ngươi sẵn đủ chánh kiến, văn, giác, tri Tánh này nhướng mày nháy mắt, vận dụng khứ lai khắp trong cơ thể, búng đầu đầu biết, búng chân chân biết, nên gọi là Chánh-biến-tri, ngoài ra chẳng Phật khác; thân này có sanh diệt, Tâm-tánh từ vô thỉ đến nay chưa từng sanh diệt, thân sanh diệt như con rắn lột da, người ra nhà cũ, thân là vô thường, Tánh thì thường”. Sở thuyết miền Nam đại khái như thế.

Sư nói : Nếu vậy chẳng khác với bọn Ngoại-đạo Tiên-ni; họ nói “Trong thân này có một Thần-tánh, Tánh này hay biết đau ngứa, khi thân hoại thì thần ra đi, như nhà bị cháy chủ nhà ra đi, nhà là vô thường, chủ nhà là thường”. Nếu nói như thế thì chẳng phân biệt được tà chánh, lấy gì làm đúng ?Trước kia Ta đi du phương gặp nhiều bọn này, tụ Chúng năm ba trăm, mắt ngó mây Trời, nói là Tông-chỉ miền Nam, tự sửa đổi kinhPháp Bảo Đàn, lược bỏ Thánh-ý, thêm vào lời tục để mê hoặc cho hậu học, đâu còn ngôn Giáo ! Khổ thay ! Mất cả Tông ta ! Nếu cho kiến, văn, giác, tri là Phật-tánh thì Duy-ma-cật chẳng nên nói “Pháp lìa kiến, văn, giác, tri; nếu hành kiến, văn, giác, tri, ấy là kiến, văn, giác, tri chẳng phải cầu Pháp vậy”.

Hoàng Bá Truyền Tâm Pháp Yếu nói : “Cái Tâm bổn nguyên thanh tịnh này thường tự sáng tròn chiếu khắp, người đời chẳng ngộ, chỉ nhận kiến, văn, giác, tri là Tâm; bị kiến, văn, giác, tri che khuất nên chẳng thấy Bản-thể tinh minh. Hễ ngay đó vô tâm thì Bản-thể tự hiện, như mặt trời trên không, chiếu khắp mười phương chẳng có chướng ngại. Người học Đạo nên ở kiến, văn, giác, tri nhận Bản-tâm, nhưng Bản-tâm chẳng thuộc kiến, văn, giác, tri, cũng chẳng lìa kiến, văn, giác, tri; chớ nên ở kiến, văn, giác, tri động niệm, cũng chớ lìa kiến, văn, giác, tri cầu pháp; chẳng tức chẳng lìa, chẳng trụ chẳng chấp, tung hoành tự tại, nơi nào chẳng phải Đạo-tràng ?”

5. Lục Tổ Và Thần Tú :

Thần Tú nói : “Thân là cây Bồ-đề, Tâm như đài gương sáng, luôn luôn siêng lau chùi, chớ cho dính bụi trần”. Kiến, văn, giác, tri dụ cho gương sáng, vọng niệm như bụi dính gương, siêng lau chùi dụ cho dứt sạch vọng niệm, chớ cho dính bụi là dụ chẳng cho vọng niệm sanh khởi. Thật ra kiến, văn, giác, tri vốn hay khởi vọng niệm, chẳng thể dứt sạch được, ví như nguồn suối ngày đêm chảy nước ra, dứt rồi lại chảy nữa vĩnh viễn dứt không được. Cho nên người nhận 'kiến, văn, giác, tri' là Phật-tánh vốn là sai lầm, tu hành vô ích.

Lục-tổ nói : “Bồ-đề vốn chẳng cây, gương sáng cũng chẳng đài, vốn là chẳng một vật, nơi nào dính bụi trần ?”. Lục-tổ đã minh Tâm kiến Tánh, nên kệ này hiển thị Phật-tánh chẳng sanh chẳng diệt, chẳng dơ chẳng sạch, chẳng thọ huân nhiễm, bổn lai thành Phật là đứng trên quả vị Chơn-như mà nói “Vốn chẳng một vật” là chỉ thẳng Phật-tánh vốn chẳng khởi vọng niệm, nên biết khởi vọng niệm là kiến, văn, giác, tri, chẳng khởi vọng niệm là Phật-tánh. Nếu Phật-tánh với kiến, văn, giác, tri chẳng phân biệt rõ ràng thì dụng công học Phật ắt phải sai lầm.

Thần Tú cho kiến, văn, giác, tri là Phật-tánh, nhưng sai lầm ấy chẳng phải chỉ một mình Thần Tú, sai lầm ấy truyền nhau từ đời Lục Triều, là chịu sự ảnh hưởng học thuyết Lão-tử nói “Đạo sanh một, một sanh hai, hai sanh ba, ba sanh vạn vật, vạn vật sanh cõng âm mà ôm dương, từ âm dương của vạn vật trở về ba, hai, một rồi tới Đạo”. Bên ngoài thì nói danh từ của Phật-pháp, bên trong là lý Đạo của Lão-tử truyền nhau cho đến đời này, chẳng biết lầm hại cho bao nhiều học Phật với những cao Tăng thông minh, thật đáng thương xót.

Phàm dụng công tu hành, cần phải phá 'Vô thỉ vô minh', kinh Hoa Nghiêm nói : “Phá vô minh đen tối”. Kinh Viên Giác nói : “Vô thỉ huyễn vô minh”. Kinh Thắng Man nói : “Đoạn vô thỉ vô minh”. Kinh Lăng Nghiêm nói : “Pháp trần u nhàn”, Tổ-sư Thiền-tông gọi là 'Vô ký không, Hầm sâu vô minh, Đáy thùng sơn đen, Đầu sào trăm thước, Hang quỉ núi đen'; Giáo-môn gọi là Nguyên phẩm vô minh, Căn bản vô minh, Bạch tịnh thức… Các kinh Lăng Già, Niết-bàn và lịch sử Thiền-tông như Chỉ Nguyệt Lục, Truyền Đăng Lục, Ngũ Đăng Hội Nguyên, trong đó nói về dụng công phá về Vô-thỉ-vô-minh rất nhiều, chưa thể kể hết.

6. Tham Thiền Lầm Nhận Hầm Sâu Vô Minh Là Phật-tánh Như Thái Cực Đồ Thuyết Của Châu Liêm Khê :

Châu Liêm Khê là Tổ sáng lập lý học của nhà Nho đời Tống, soạn Thái Cực Đồ Thuyết cho Đạo là trước vô hậu hữu làm căn bản, phối hợp với lý âm dương ngũ hành để thuyết minh thế hệ của vũ trụ vạn vật trở đi trở lại, tuần hoàn hóa sanh mãi. Cái nghĩa “Vô-cực thái-cực” với học thuyết “Vô-danh là bắt đầu của Thiên-địa, hữu danh là mẹ của vạn vật” và “Vô-vi mà vô-bất-vi” của Lão-tử đồng một ý chỉ. Nhà Nho vốn chỉ nói Thái-cực, hai chữ “Vô-cực” là học thuyết của Đạo-giáo, Lão Tử Tri Hùng Chương nói : “Trở về nơi vô-cực”, Trang-tử Đại Tông Sư Thiên nói : “Yểu đào vô-cực”, Khắc Ý Thiên “Đạm nhiên vô-cực”, Tại Hựu Thiên “Dạo nơi đồng vô-cực”, trong Đạo Tạng có Thái Cực Tiên Thiên Đồ, tác giả là Trần Đồ Nam, người Đạo-giáo, ấy là một sản phẩm hỗn hợp với Nho và Đạo. Châu Liêm Khê từng theo học với Thích Thọ Nhai ở Hạc Lâm tự, được bản Thái Cực Tiên Thiên Đồ, rồi sửa lại theo ý mình để kiến lập thế hệ Lý-học.

Theo quan điểm của nhà Phật, 'Vô-cực' tức là vô thỉ vô minh, 'Thái-cực' tức là nhất niệm vô minh. Tại sao ? Vô-cực vốn vô mà sanh ra hữu, nhất niệm đã sanh tức là Thái-cực, niệm có động tịnh thì phân thành âm dương, âm dương phân thì lưỡng-nghi lập, biến hợp mà sanh ngũ hành. Tinh diệu của lưỡng-nghi hợp nhau mà có Càn nam, Khôn nữ, nhị khí (âm dương), ngũ hành hóa sanh vạn vật, rồi vạn vật trở về nơi ngũ hành, ngũ hành trở về âm dương, âm dương trở về thái cực, một lên một xuống, trở đi trở lại tức là pháp luân hồi sanh diệt, bắt đầu khởi từ vô minh, cuối cùng cũng trở lại nhập nơi vô-minh, giống như Thập Nhị Nhân Duyên của thừa Duyên-giác. Theo Thập Nhị Nhân Duyên chỉ nói về tác dụng luân hồi của vô thỉ vô minh với nhất niệm vô minh, nói cách khác tức là tác dụng của bộ não suy nghĩ, chẳng thể thuyết minh tác dụng Phật-tánh, Phật-tánh siêu việt luân hồi sanh diệt, vô nhân vô duyên, chẳng động chẳng tịnh, bổn lai vô sanh nên vô diệt, bổn lai chẳng hữu nên chẳng vô, sự hữu vô sanh diệt là do tác dụng tương đối của bộ não, chẳng dính dáng với Bản-thể Chơn-như.

Thái Cực Đồ Thuyết nói vô-cực sanh thái-cực, thái-cực lại sanh âm-dương vạn vật, vì có sanh nên có diệt, có sanh diệt tức là luân hồi, có luân hồi thì chẳng phải tuyệt đối. Nên biết lý vô-cực, Thái-cực là do kiến, văn, giác, tri quán xét hiện tượng biến hóa của vũ trụ mà kiến lập giả thiết, phàm chỗ quán xét có thể đến là quyết định chẳng phải bản thể tuyệt đối. Bản-thể chơn như tuyệt đối là “Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt”, chẳng thể dùng suy nghĩ đo lường, cũng chẳng thể dùng ngôn ngữ tỏ bày, chỉ có người trực tiếp chứng nhập mới biết được. Kẻ được chứng nhập thì không còn sanh tử luân hồi, nên gọi là kiến Tánh thành Phật, sau khi thành Phật thì chẳng biến lại chúng sanh, chẳng chịu lại luân hồi, mà Thái-cực thì luân hồi chẳng dừng.

7. Tham Thiền Nhận Lầm Học Thuyết Của Vương Dương Minh Là Thiền-tông :

Có người cho học thuyết Dương Minh là Phật-pháp, thật là lỗi lầm lớn. Học thuyết Dương Minh có bốn lời để làm cương yếu, tức “Không thiện không ác là thể của tâm, có thiện có ác là động của ý, biết thiện biết ác là lương-tri, làm thiện bỏ ác là cách-vật (đủ tư cách làm người)”. Bốn lời này tức là vô thỉ vô minh với tác dụng của nhất niệm vô minh, so với thể dụng của Phật-tánh còn xa lắm. Học thuyết Dương Minh chưa thể vượt qua phạm vi vô minh, vẫn còn ở trong luân hồi, cái bệnh ấy là do dùng bộ não suy xét đo lường, bộ não vốn huyễn hóa chẳng thật, chẳng phải thể dụng chơn thật cùng tột.

Chơn-như Phật-tánh chẳng phải suy nghĩ đo lường có thể đến, chẳng thọ huân nhiễm, chẳng có biến đổi, chỉ có kẻ chứng với kẻ chứng mới biết nhau được. Nhà Phật lấy Chơn-như Phật-tánh làm cội nguồn, mà nhà Nho lấy vô thỉ vô minh làm cội nguồn, vì cội nguồn chẳng đồng nên chẳng thể đến với nhau. Nhiều người chưa rõ sự khác biệt giữa Phật-tánh với vô thỉ vô minh, lại lầm nhận vô thỉ vô minh là Phật-tánh, nói Nho, Phật cùng nguồn, ấy là một sự lỗi lầm rất lớn. Hoặc cho “Chẳng thiện chẳng ác thể của Tâm” tức Chơn-như Phật-tánh của nhà Phật, “Có thiện có ác động của ý” tức vô minh phiền não của nhà Phật, ấy là sai. “Chẳng thiện chẳng ác thể của Tâm” tức vô thỉ vô minh, “Có thiện có ác động của ý” tức nhất niệm vô minh, “Biết thiện biết ác là lương-tri” tức kiến, văn, giác, tri, “Làm thiện bỏ ác là cách-vật” tức là tác bệnh trong bốn thứ thiềnbệnh, đều là Linh-tánh của bộ não, chẳng dính dáng với Phật-tánh.

Vô-thỉ-vô-minh bổn lai ám muội chẳng sáng, vô tri vô giác nên chẳng phân biệt thiện ác, khi bị kích thích sanh khởi nhất-niệm-vô-minh, mới có kiến, văn, giác, tri, phân biệt được thiện, ác, tốt, xấu, người có ý thức đều biết thiện biết ác, “Lương-tri” của Dương Minh là tác dụng của bộ não, tác dụng của bộ não đều lấy vô-minh làm chủ, chẳng phải Phật-tánh. Nhất-niệm-vô-minh có hai mặt : Tịnh và nhiễm. Thiện là tịnh duyên, ác là nhiễm duyên, chẳng thể cho tịnh duyên là Phật-tánh, nhiễm duyên là chúng sanh vậy.

8. Tham Thiền Nhận Lầm Phục Tánh Thư Của Lý Cao Là Thiền-tông :

Người đề xướng Đạo-học nhà Nho Hàn Dũ, Lý Cao đời Đường là nổi bật nhất, Phục Tánh Thư của Lý Cao đối với học giả nhà Nho ảnh hưởng lớn hơn. Lý Cao cho “Tánh vốn trong sáng, vì bị thất tình mê hoặc mà trở thành hôn trược”, nên chủ trương ức chế tình cảm để khôi phục Bản-tánh.

Phục Tánh Thư nói : “Con người sở dĩ làm bậc Thánh là do Tánh, Tánh con người sở dĩ bị mê hoặc là do tình, mừng, giận, buồn, vui, yêu, ghét, ham, bảy thứ đều do tình làm ra, tình đã hôn muội thì tánh, ấy chẳng phải lỗi của tánh. Thất tình thay phiên tuần hoàn thì tánh chẳng toàn vẹn, như nước có cặn bã thì chẳng trong, lửa có khói đen thì sáng chẳng tỏ, ấy chẳng phải lỗi của nước và lửa không trong sáng, cặn bã chẳng có thì nước trong, khói đen chẳng tỏa thì ánh sáng tỏ, thất tình chẳng làm thì Tánh tròn vẹn vậy”. Lại nói : “Tánh với tình chẳng lìa nhau, nếu chẳng có tánh thì tình chẳng thể sanh, vậy tình do tánh mà sanh, tình chẳng tự tình, bởi tánh mà tình, tánh chẳng tự là tánh, do tình mà tánh”.

Lý Cao từng tham học với Dược Sơn Thiền-sư, rất tin Phật-pháp, kỳ thật Lý Cao bị lầm hại là do kinh Phật ngụy, bởi câu “Bản-tâm Viên-giác trong sạch sáng tỏ (Phật-tánh) hay sanh khởi phiền não”, cái thuyết “Chơn-như duyên khởi” xuất xứ từ Đại-thừa Khởi Tín Luận là Ngoại-đạo mạo tên ngài Mã-minh để truyền bá, ấy là pháp sanh diệt, chẳng phải Phật-pháp. Tại sao nói vậy ? Vì Chơn-như Phật-tánh chẳng thọ huân nhiễm, thường giữ bản Tánh, chẳng có biến đổi. Phẩm Hồi Hướng (kinh Hoa Nghiêm)nói : “Vô-minh vốn chẳng thể tánh, như hoa đốm trên không chẳng từ Chơn-như sanh khởi”, nếu nói vô-minh nương Chơn-như sanh khởi, trừ bỏ vô-minh trở về Chơn-như Phật-tánh tức là kiến Tánh thành Phật, nói vậy thì ban sơ có thể sanh khởi, tương lai cũng có thể tái khởi, lúc vô-minh tái khởi, lại trở thành chúng sanh, lúc thì thành Phật, lúc lại thành chúng sanh, thế thì Phật cũng có luân hồi sanh diệt, thành Phật đâu có giá trị gì ?

Thuyết của Lý Cao tình với Tánh thông nhau, khi tình chẳng sanh là Tánh, là bậc Thánh, đến khi tình sanh lại là phàm phu, vậy một hồi bậc Thánh một hồi phàm phu, tức là luân hồi sanh diệt. Bởi “Tánh” của Lý Cao nói là 'vô-thỉ-vô-minh', “Tình” là 'nhất niệm vô minh', chỉ là tác dụng của bộ não. Bộ não khi tịnh là vô thỉ vô minh, bộ não khi động là nhất niệm vô minh, cùng trong một phạm vi, “Ức chế tình, khôi phục Tánh” là muốn khiến nhất niệm vô minh trở về vô thỉ vô minh, vô-thỉ-vô-minh chính là nguồn gốc của sanh tử, là bản thể của vọng tâm. Nếu vô thỉ vô minh chưa phá tan thì chẳng thể kiến Tánh thành Phật, như học thuyết của Lý Cao đâu thể cho là Thiền-tông ?

9. Tham Thiền Lầm Nhận Lý “Sâu Xa Mịt Mù, Trong Đó Có Tinh” Của Lão Tử Là Thiền-tông :

Nhiều người cho rằng Chơn-không Diệu-hữu, diệu hữu chơn không, tĩnh tĩnh tịch tịch, tịch tịch tĩnh tĩnh, chẳng chấp hữu chẳng chấp vô, cũng chẳng chấp phi hữu, cũng chẳng chấp phi vô, chẳng khởi niệm cũng chẳng dứt niệm, tựa như hữu mà phi hữu, tựa như vô mà phi vô, khởi niệm động niệm chẳng bị ngoại duyên xoay chuyển, cho đó là Đạo-lý của Thiền-tông. Kỳ thật là đạo lý của Lão-tử nói : “Thể của Đạo mập mờ nhấp nhoáng, trong đó có tượng, mập mờ nhấp nhoáng trong đó có vật, sâu xa mịt mù, trong đó có tinh”, còn “Chẳng chấp hữu, chẳng chấp vô, chẳng chấp phi hữu, chẳng chấp phi vô” là đạo lý của Bà-la-môn, hoàn toàn là tác dụng của bộ não, có sanh diệt luân hồi, chẳng phải phương pháp thamthiền.

10. Tham Thiền Nhận Lầm Ba Thứ Pháp Môn Dụng Công Của Giáo-môn Là Thiền-tông :

Ba thứ Pháp-môn của Giáo-môn tức là Thiền-quán Sa-ma-tha, Tam-ma-bát-đề và Thiền-na. Sa-ma-tha dịch là 'tịch-tịnh', Tam-ma-bát-đề dịch là 'nhiếp-niệm', Thiền-na dịch là 'tịnh-lự'. Ba thứ Thiền-quán này ở trong kinh Viên Giác, Phật đã có giải thích rất kỹ càng, dù trong kinh Viên Giác có nói : “Ba Pháp-môn này mười phương Như-lai do đó thành Phật, mười phương Bồ-tát đủ thứ phương tiện, tất cả đồng dị, đều nương theo ba thứ sự nghiệp này, nếu được Viên-chứng tức thành Viên-giác”, ấy chỉ là nói cách tu trong phạm vi Giáo-môn, nên chính trong Kinh này có nói “Chỉ trừ người Đốn-ngộ và Xiển-đề chẳng tin”, nói chỉ trừ người đốn-ngộ tức là chỉ trừ Thiền-tông đốn-ngộ, chẳng phải Giáo-môn, nên xưng 'Giáo ngoại biệt truyền'.

Phương pháp dụng công của Đại-thừa tên gọi rất nhiều mà ý nghĩa chẳng khác, nhưng đều chẳng phải Thiền-tông. Thiền-tông tham Thoại-đầu, Công-án, cần nhất là nghi-tình (tức là dùng cái tâm không biết để chấm dứt tất cả biết), cho đến hoát nhiên đốn ngộ, dứt hẳn gốc nghi kiến Tánh thành Phật. Khi đã minh Tâm kiến Tánh, nếu có Thiện-tri-thức mắt sáng thì tìm đến Thiện-tri-thức ấy ấn chứng, nếu chẳng có người mắt sáng thì lấy Truyền Đăng Lục, Ngũ Đăng Hội Nguyên, Chỉ Nguyệt Lục, hoặc các Kinh như Lăng Già, Hoa Nghiêm, Duy-ma-cật… xem kỹ để làm ấn chứng cũng được.

11. Dụng Công Lầm Nhận Tam Chỉ Tam Quán Là Thiền-tông :

Vân Cốc Thiền-sư Truyện trong Mộng Du Tập của ngài HámSơn có nói : “Vân Cốc Thiền-sư 19 tuổi bỗng quyết chí đi tham học bốn phương, nghe nói Pháp-môn Tiểu-chỉ-quán của Thiên Thai, bèn chuyên tâm tu tập, khi gặp Pháp Châu Tế Thiền-sư đang nhập thất tại Thiên Ninh, Sư bèn đi tham vấn, trình sở tu của mình, Châu nói : “Pháp-yếu của chỉ-quán chẳng nương thân tâm hơi thở, trong ngoài đều bặt cách tu của người là lạc nơi hạ-thừa, chẳng đúng ý của tổ Đạt-ma, người học nên lấy Tâm-ngộ làm chủ”. Vân Cốc kích động chảy nước mắt, lại xin chỉ giáo, Châu dạy tham thoại-đầu chơn thật, bảo ngay bây giờ hạ thủ công phu phát khởi nghi-tình. Vân Cốc vâng lời ngày đêm tham cứu, cho đến ăn ngủ đều quên, một hôm dùng cơm, cơm hết cũng chẳng tự biết, chén bỗng rơi xuống đất, hoát nhiên đốn ngộ như trong mộng được thức tĩnh, lại thưa với Pháp Châu, được Ngài ấn khả. Xem qua nhân duyên ngộ đạo của Vân Cốc Thiền-sư, có thể làm mô phạm cho chúng ta dụng công tham thiền.

Tăng hỏi Tử Hồ Thiền-sư : Thế nào là nhất tâm tam quán ?

Sư nói : Ta còn chẳng thấy có nhất tâm, ngươi gọi cái gì là tam quán ? !

Xưa kia có một Pháp-sư chỉ-quán hỏi Huệ Hải Thiền-sư : Nhất niệm tam quán là thế nào ?

Sư đáp : Tâm quá khứ đã qua, tâm vị lai chưa đến, tâm hiện tại chẳng trụ, trong đó dùng Tâm nào để khởi quán ?

Pháp-sư đáp : Thiền-sư chẳng hiểu chỉ-quán.

Sư nói : Tọa-chủ hiểu chăng ?

Pháp-sư nói : Hiểu.

Sư nói : Như Trí Giả Đại-sư nói Chỉ phá chỉ, nói Quán phá quán, trụ Chỉ thì chìm nơi sanh tử, trụ Quán thì tâm bị rối loạn. Vậy nên lấy tâm chỉ tâm hay là khởi tâm để quán ? Nếu có tâm quán là pháp thường kiến, nếu chẳng tâm quán là pháp đoạn kiến, nếu cũng có cũng không thì thành pháp nhị kiến, xin Tọa-chủ nói thử xem ?

Pháp-sư nói : Nếu hỏi như thế thì đều chẳng nói được.

Sư nói : Vậy đâu từng chỉ quán ?

12. Chấp Thật “Phân Biệt Là Thức, Chẳng Phân Biệt Là Trí” Thành Bệnh :

Hám Sơn Đại-sư nói : “Phân biệt là Thức, chẳng phân biệt là Trí”, hai câu này hình như mơ hồ, vì Thức với Trí một là bộ não, một là Phật-tánh, lúc chưa chuyển Thức thành Trí, thì phân biệt tất nhiên là Thức, khi đã chuyển thức thành Trí thì chẳng phân biệt là Trí, phân biệt cũng là Trí. Phân biệt hay chẳng phân biệt không thể dùng để phán đoán Thánh hay phàm.

13. Chấp Thật “Nhiễm Với Tịnh” Thành Bệnh :

Nhiễm với tịnh là pháp tương đối, vì có nhiễm mới có tịnh, kinh Lăng Già nói : “Đại Huệ ! Sanh diệt là thức, chẳng sanh diệt là Trí, lại nữa đọa tướng, vô tướng và hữu vô mỗi mỗi làm nhân với nhau là thức, siêu việt tướng hữu vô là Trí. Lại nữa, tướng vô ngại là Trí, đủ thứ cảnh giới do tướng ngại Trí là Thức. Lại nữa, ba việc Căn, Trần, Thức hòa hợp sanh tướng phương tiện là Thức, chẳng có việc phương tiện của tướng Tự-tánh là Trí. Lại nữa, đắc tướng là Thức, chẳng đắc tướng là Trí”.

Theo lời Kinh kể trên thì được rõ, vừa nói có tịnh thì phải có nhiễm, đồng như sự sanh diệt, vì có sanh mới nói có diệt, nhiễm tịnh sanh diệt đều là tác dụng của kiến, văn, giác, tri. Có một số người cho : “Chẳng khởi niệm là tịnh, tức là Phật-tánh, khởi niệm là nhiễm, tức là vọng tưởng” thế là sai lầm. Chẳng khởi niệm là tịnh duyên của vô thỉ vô minh, chẳng phải Phật-tánh, Phật-tánh bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm, ấy là tuyệt đối, chẳng dính dáng với nhiễm tịnh. Hám Sơn Đại-sư nói “Nhiễm là Thức, tịnh là Trí”, ấy là sai lầm. Kinh Pháp Bảo Đàn nói : “Tịnh chẳng hình tướng mà lại lập tướng tịnh, nói là công phu, có kiến giải này tự chướng Bản-tánh, lại bị tịnh trói”.

Tăng hỏi Huệ Trung Quốc-sư : Tọa thiền khán tịnh là thế nào ?

Sư nói : Bất cấu bất tịnh, đâu cần khởi tâm mà khán tướng tịnh ?

14. Chấp Thật “Như Như Bất Động Là Phật-tánh” Thành Bệnh :

Nói “Như như bất động” là hình dung để diễn tả Chơn-như Phật-tánh. Ý nói Chơn-như Phật-tánh vốn sẵn sàng, chẳng có thêm bớt, cũng chẳng động tịnh, thêm bớt động tịnh là tác dụng của bộ não, chẳng dính với bản thể Chơn-như.

Có một số người tu hành, suốt ngày ngồi không như cây khô, miễn cưỡng đè nén suy nghĩ cho dừng lại, giống như nước biển lóng lặng, cho làm như thế tức là 'như như bất động'của Phật-tánh, ấy là sai lầm lớn. Suy nghĩ của con người chẳng thể dừng nghỉ mãi mãi, muốn vĩnh viễn dừng nghỉ chỉ có người chết mới làm được. Nếu người sống miễn cưỡng đè nén suy nghĩ, chỉ có thể dừng lại trong vòng mấy mươi phút hoặc mấy tiếng, nhiều nữa là mấy ngày, cuối cùng sẽ có một hôm tái khởi. Nếu cùng trong một ngày khi suy nghĩ dừng là Phật, qua một hồi suy nghĩ khởi dậy lại thành chúng sanh, vậy trong một ngày bỗng thành Phật bỗng thành chúng sanh, mỗi ngày đều ở trong luân hồi, như thế làm Phật có lợi ích gì ? Nếu người thật đã minh Tâm kiến Tánh thì dẫu cho cầm dao ra trận vẫn là 'như-như bất động'.

15. Chấp Thật “Ngũ Uẩn Giai Không” Thành Bệnh :

“Ngũ Uẩn giai không” là nói sau khi kiến Tánh, ngũ Uẩn đều biến thành Phật-tánh, đầy khắp hư không, vạn tượng sum la đều là Phật-tánh, nên Kinh nói : “Sắc chẳng khác với không, không chẳng khác với sắc; sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức, đều cũng như thế”.

Một số người tu hành cho là chẳng chấp trước tất cả tướng, chẳng trụ tất cả tướng, đối cảnh vô tâm, tất cả vô ngại gọi là ngũ Uẩn giai không, ấy là sai lầm lớn. Chẳng chấp trước tất cả tướng, chẳng trụ tất cả tướng, đối cảnh vô tâm, tất cả vô ngại là mặc kệ cho ngũ Uẩn khởi hay diệt, chẳng màng đến nó, nhưng ngũ Uẩn vẫn là ngũ Uẩn, chưa biến thành Phật-tánh, nó vẫn hay làm việc xấu. Nếu ông suốt ngày phải giữ cái niệm “chẳng màng đến nó” không buông, há chẳng tự làm cho tâm mình lao nhọc, đâu thể vô tâm vô ngại mà được ngũ Uẩn giai không ư ?

16. Chấp Thật “Chơn Như Duyên Khởi” Thành Bệnh :

Một số người nói : “Chơn-như vốn chẳng động, vì chẳng giữ bản tánh, nên nhất niệm bất giác bèn khởi vọng niệm, tạo tội làm phước, luân hồi sanh tử, nếu nhất niệm giác ngộ Chơn-tâm, trở lại thường giữ gìn chẳng biến đổi thì chẳng bị luân hồi, gọi là thành Phật”. Ấy là kiến giải của Ngoại-đạo.

Bản-thể Chơn-như vốn viên mãn sẵn sàng, chẳng biến chẳng đổi. Kinh Hoa Nghiêm nói : “Ví như Chơn-như thường giữ bản tánh, chẳng có biến đổi”, nếu Chơn-như mà có biến đổi tức là pháp sanh diệt. ĐạiThừa Khởi Tín Luận nói : “Chơn như duyên khởi”, chỉ bốn chữ này có thể phán đoán rằng luận này là do Ngoại-đạo ngụy tác, gán tên ngài Mã-minh truyền bá. Tại sao ? Vì Chơn-như chẳng có duyên khởi, chẳng bị huân nhiễm, nếu có duyên khởi thì phải có sanh diệt, pháp sanh diệt nhất định chẳng phải Phật-pháp vậy.

17. Chấp Thật “Tánh Là Không, Tâm Là Vọng” Thành Bệnh :

“Tánh là không, Tâm là vọng” là nói Phật-tánh đầy khắp hư không, chẳng thể dùng bộ não để nhận biết, những gì có thể nhận biết đều là vọng tưởng. Một số người hiểu lầm ý này, cho có tư tưởng đều là vọng tâm, đem vọng tâm dứt sạch thành không, tức là kiến Tánh thành Phật. Nếu dạy người như thế này là lọt vào đoạn kiến của Ngoại-đạo, tội lỗi chẳng phải nhỏ.

18. Chấp Thật “Đã Sanh Là Vọng, Chưa Sanh Là Tâm” Thành Bệnh :

Có người truyền khẩu quyết Thiền rằng : “Đã sanh là vọng, chưa sanh là Tâm”, cho rõ được hai câu này thì được ngộ Đạo thành Phật, ấy là lời yêu quái, quyết chẳng thể tin. “Đã sanh” là nhất-niệm-vô-minh, tất nhiên là vọng, “Chưa sanh” là vô-thỉ-vô-minh, cũng chưa lìa vọng, đều chẳng phải Chơn-tâm.

19. Chấp Thật “Chuyển Thức Thành Trí” Thành Bệnh :

Người tu Pháp-môn Duy Thức, điều cần nhất là tìm ra chủng tử vô-thỉ-vô-minh đã tiềm ẩn nơi A-lại-da-thức (tức Bạch-tịnh-thức) đập cho tan nát thì 8Thức được 8giải thoát, Tam-tánh biến thành Tam-vô-tánh, 8Thức biến thành 4Trí, sau khi chuyển Thức thành Trí, chẳng trở lại làm Thức.

Khi chưa chuyển Thức thành Trí thì bị A-lại-da làm chủ, khi đã chuyển Thức thành Trí thì Chơn-như Phật-tánh làm chủ, Chơn-như Phật-tánh chẳng biến đổi, nên thành Phật rồi chẳng trở lại làm chúng sanh, chẳng bị luân hồi. Một số người tu hành lầm nhận cho một niệm mê là Thức, một niệm ngộ là Trí, chuyển Thức thành Trí là đem cái niệm mê chuyển thành cái niệm ngộ, ấy là sai lầm lớn, cái tâm niệm biến đổi chẳng định, nếu suốt ngày bỗng mê bỗng ngộ, bỗng Trí bỗng Thức, có lúc là Phật, có lúc lại là chúng sanh, vậy thành Phật có giá trị gì ?

20. Chấp Thật “Tựa Hữu Phi Hữu, Tựa Không Phi Không” Thành Bệnh :

Có một số người buông bỏ vạn duyên tĩnh tọa quán Tâm, quán đến cảnh giới “tựa hữu phi hữu, tựa không phi không”, như thế cho là chẳng lọt nhị biên, chẳng trụ hữu vô, là cảnh giới Phật-tánh, ấy là sai lầm lớn. “Tựa hữu phi hữu, tựa không phi không” là tác dụng của bộ não, chẳng phải Phật-tánh, bản thể Phật-tánh dùng bộ não suy lường thì chẳng thể đến. Lục-tổ nói : “Dẫu cho tận sức đo lường lại càng xa xôi”, người tu hành chớ nên dùng bộ não để đo lường Phật-tánh, chỉ có thể dùng bộ não tìm ra vô-thỉ-vô-minh, rồi một búa đập nát thì Phật-tánh tự nhiên hiển hiện.

21. Chấp Thật “Chẳng Cầu Chơn, Chẳng Dứt Vọng” Thành Bệnh :

Chứng Đạo Ca nói : “Chẳng cầu chơn, chẳng dứt vọng, liễu tri hai pháp vốn chẳng tướng”. Một số người tu hành cho là chẳng cầu Chơn-tâm cũng chẳng dứt vọng niệm, chơn vọng mặc nó tức là công phu đến mức, ấy là sai lầm lớn. “Chẳng cầu Chơn” là nói Phật-tánh chẳng thể cưỡng cầu, chơn với vọng là tương đối, vì có vọng mới nói có Chơn, bản thể Phật-tánh vốn chẳng chơn vọng, nên Chơn chẳng thể cầu, vọng cũng chẳng cần dứt, hai tướng chơn vọng vốn không. Nếu cho niệm vọng niệm chơn đều chẳng màng đến, ấy là lọt vào bệnh nhậm (bệnh mắc kệ), càng mặc kệ thì càng hồ đồ, dụng công như thế này giống như nấu cát làm cơm, đâu thể thành tựu ?

22. Chấp Thật “Trung Đạo” Thành Bệnh :

Một số người cho “Niệm trước đã diệt, niệm sau chưa khởi, giữa niệm trước với niệm sau tức là Trung-đạo”, lại nói “Chẳng lập nhị biên, chẳng chấp hữu vô tức là Trung-đạo” ấy là sai lầm lớn. Niệm trước đã diệt, niệm sau chưa khởi, giữa niệm trước và niệm sau là Vô-ký-không, chẳng lọt nhị biên, chẳng chấp hữu vô là bệnh mặc kệ, đều là tác dụng của bộ não, chẳng phải Trung-đạo. Trung-đạo là Chơn-như Phật-tánh. Kinh Niết-bàn nói : “Trung-đạo gọi là Phật-tánh, do nghĩa này Phật-tánh luôn luôn chẳng biến đổi, nếu có đắc Đệ-nhất-nghĩa-không thì chẳng hành Trung-đạo”. Lục-Tổ nói : “Hai chữ Phật-tánh là ở nơi phàm phu mà chẳng bớt, ở nơi Thánh hiền mà chẳng thêm, trụ nơi phiền não mà chẳng loạn, ngay nơi Thiền-định mà chẳng tịch, chẳng đoạn, chẳng thường, chẳng khứ, chẳng lai, chẳng ở khoảnggiữa và bên trong bên ngoài, chẳng sanh chẳng diệt, tánh tướng như như thường trụ chẳng dời, ấy là Đạo”.

23. Chấp Thật Lời Thí Dụ “Nước Với Sóng” Thành Bệnh :

ĐạiThừa Khởi Tín Luận lấy nước dụ cho Chơn-như, lấy sóng dụ cho sanh diệt, ấy là sai lầm. Chơn-như là bản thể của Phật-tánh, sanh diệt là các dụng vọng tưởng của bộ não, hai thứ chẳng dính dáng với nhau, Chơn-như là như-như bất động, chẳng có biến đổi, chẳng khởi vọng niệm, nếu Chơn-như hay khởi vọng niệm sanh diệt như nước nổi làn sóng thì Chơn-như cũng có sanh diệt luân hồi, chẳng phải bản thể cùng tột của Phật-tánh. Kinh Lăng Già dùng nước biển dụ cho Thức thứ tám, làn sóng dụ cho Thức thứ bảy mới đúng với Chánh-lý, nên nói Đại-thừa Khởi Tín Luận là tác phẩm của Ngoại-đạo.

Ngài Khuê Phong lấy băng với nước dụ cho vọng tâm với Phật-tánh là xuất phát từ Khởi Tín Luận cũng là sai lầm. Nói vọng niệm khởi như nước đóng thành băng, vọng niệm diệt như băng tan thành nước, ấy là sai lầm, trong Phật-tánh vốn chẳng vọng niệm, cũng chẳng khởi vọng niệm, nói nước đóng thành băng, băng tan thành nước, đóng tan bất thường là pháp sanh diệt, Chơn-như Phật-tánh thì chẳng sanh diệt, nên chữ nước chỉ có thể dụ cho linh tánh kiến, văn, giác, tri, chứ chẳng thể dụ cho Phật-tánh.

24. Chấp Thật “Tâm Với Pháp Đều Quên Là Phá Ngã Chấp Và Pháp Chấp” Thành Bệnh :

Một số người cho “Tâm với pháp đều quên thì ngã chấp, pháp chấp đã bị phá tức là Phật-tánh”, ấy là sai lầm. Tâm cùng Pháp đều quên là vô-ký-không; Ngã-chấp, Pháp-chấp đã phá là lọt vào Không-chấp, tức là 'hầm sâu vô minh', 'đáy thùng sơn đen'chẳng phải Phật-tánh, phải phá luôn Không-chấp rồi mới thấy được Phật-tánh. Phật-tánh là Chơn-tri-giác'(Bản tri bản giác), tâm pháp đều quên là cảnh giới say sưa của bộ não, hai thứ khác nhau.

25. Chấp Thật “Hung Trung Bất Lưu Nguyên Tự Cước” Thành Bệnh :

Người xưa nói “Hung trung bất lưu nguyên tự cước (ở trong lòng chẳng còn bước chân đầu tiên) tức ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt, ý nói một chữ chẳng còn, kỳ thật Chơn-như Phật-tánh chẳng phải suy nghĩ văn tự có thể đến, phàm còn suy nghĩ văn tự đều là kiến, văn, giác, tri, chẳng thể kiến Tánh.

Người ta thường hiểu lầm “Hung trung bất lưu nguyên tự cước” là khán một niệm đầu tiên từ đâu sanh khởi, diệt một niệm này chẳng còn dấu tích tức gọi là “hung trung bất lưu nguyên tự cước”, ấy là hiểu lầm. Kỳ thật “một niệm chẳng còn” là lạc nơi vô thỉ vô minh, vì niệm khởi niệm diệt đều là tác dụng của bộ não, chẳng dính dáng với Phật-tánh, nếu quả thật ngộ Đạo, đã minh Tâm kiến Tánh thì niệm khởi niệm diệt đều là Phật-tánh, nên gọi là “niệm đồng vô niệm”, đâu cần dứt nó mà nói một niệm chẳng còn ?

=>> Xem tiếp

 

Tác giả bài viết: Liễu Phàm

Nguồn tin: Tông Phong Tàng Thư

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn